Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2012

Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2012
02/05/2012 14:21:00


Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2012

___________

 

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp

Tính đến 15/4/2012, cả nước đã gieo cấy được 3078,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,1% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đã kết thúc gieo cấy, diện tích đạt 1147,8 nghìn ha, bằng 101,7%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1930,3 nghìn ha, bằng 99,2%. Hiện thời tiết tại các địa phương phía Bắc diễn biến tương đối thuận cho sự sinh trưởng và phát triển của lúa. Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, các địa phương đang tập trung chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh để đạt kết quả sản xuất tốt nhất.

Tính đến trung tuần tháng Tư, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 1718,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 104,3% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1523,4 nghìn ha, chiếm 96,4% diện tích gieo cấy và bằng 104,3%. Theo báo cáo sơ bộ, sản lượng lúa toàn vùng ước tính đạt 10,8 triệu tấn, tăng 280 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước, chủ yếu do năng suất tăng 1,2 tạ/ha. Năng suất lúa tăng một mặt do thời gian ngập lũ trước đó kéo dài mang lại lượng lớn phù sa, làm đất đai thêm màu mỡ; mặt khác do các địa phương thực hiện các khâu đúng lịch thời vụ như đã được khuyến cáo và sử dụng các giống lúa năng suất cao, đồng thời ứng dụng một số biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong quá trình chăm bón, đặc biệt là sử dụng bảng so màu lá lúa, cũng như thực hiện tốt công tác phòng trừ sâu bệnh nên hạn chế được dịch bệnh, giúp lúa sinh trưởng và phát triển tốt.

Tại khu vực Duyên Hải miền Trung, thời tiết diễn biến khá thuận nên năng suất lúa đông xuân của các tỉnh tăng so với năm trước, trong đó một số địa phương có năng suất lúa tăng cao là: Quảng Nam tăng 5 tạ/ha; Phú Yên tăng 3,2 tạ/ha; Bình Định tăng 0,8 tạ/ha.

Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 575,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 85,3% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ 569 nghìn ha, bằng 88,2%.

Tính đến giữa tháng Tư, cả nước gieo trồng được 452,4 nghìn ha ngô, bằng 90% cùng kỳ năm trước; 84,8 nghìn ha khoai lang, bằng 90,2%; 156,4 nghìn ha lạc, bằng 90,9%; 52,9 nghìn ha đậu tương, bằng 47,1%; 443,1 nghìn ha rau đậu, bằng 99,1%.

Theo báo cáo sơ bộ, đàn trâu, bò trong tháng cả nước ước tính giảm 7% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài đầu năm làm 1,5 nghìn con gia súc bị chết. Riêng chăn nuôi bò sữa tiếp tục phát triển với nhiều mô hình liên kết giữa doanh nghiệp thu mua và người chăn nuôi nên tổng đàn bò sữa tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2011. Đàn lợn mặc dù tăng 3-4% nhưng người nuôi vẫn gặp khó khăn do tâm lý lo ngại của người tiêu dùng đối với việc sử dụng chất kích thích tạo nạc trong chăn nuôi lợn tại một số địa phương. Đàn gia cầm ước tính tăng 5-6%, hiện nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm trên thị trường có xu hướng tăng lên. Tính đến ngày 23/4/2012, dịch cúm gia cầm và dịch lở mồm, long móng trên trâu, bò đã được khống chế; dịch tai xanh trên lợn chưa qua 21 ngày còn ở Điện Biên, Yên Bái, Nam Định và Phú Thọ.

  Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 4 năm 2012

Lâm nghiệp

Thời tiết trong tháng mặc dù đã có mưa nhưng lượng mưa thấp nên tình trạng khô hạn vẫn xảy ra tại một số địa phương, làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là công tác trồng rừng. Diện tích rừng trồng tập trung tháng Tư ước tính đạt 11,3 nghìn ha, bằng 93,4% cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 17,4 triệu cây, tăng 1,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 386 nghìn m3, tăng 9%; sản lượng củi khai thác đạt 2,7 triệu ste, tăng 2,2%. Tính chung bốn tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 28 nghìn ha, bằng cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 79,4 triệu cây, tăng 2,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1431 nghìn m3, tăng 9,2%; sản lượng củi khai thác đạt 9,9 triệu ste, tăng 2,5%.

Tính đến 18/4/2012, trên địa bàn cả nước không còn khu vực có nguy cơ cháy rừng cao. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đợt khô hạn kéo dài nên hiện tượng cháy rừng vẫn xuất hiện ở một số địa phương. Trong tháng có 100 ha rừng bị cháy và bị chặt phá. Tính chung bốn tháng đầu năm, diện tích rừng bị thiệt hại là 801 ha, gấp 6,5 lần cùng kỳ năm 2011, trong đó diện tích rừng bị cháy là 708 ha, gấp hơn 13 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 93 ha, gấp 1,5 lần.

Thủy sản

Sản lượng thuỷ sản tháng Tư ước tính đạt 408,2 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 322,8 nghìn tấn, tăng 2,5%; sản lượng tôm đạt 35,2 nghìn tấn, tăng 7,6%. Tính chung tổng sản lượng thủy sản bốn tháng đầu năm nay ước tính đạt 1546,4 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1180,8 nghìn tấn, tăng 3,5%; tôm đạt 139,7 nghìn tấn, tăng 6,4%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng bốn tháng ước tính đạt 706,7 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó cá đạt 538,1 nghìn tấn, tăng 3,9%; tôm đạt 102,5 nghìn tấn, tăng 7,7%. Tình hình nuôi trồng thủy sản bốn tháng đầu năm nhìn chung tương đối thuận lợi do giá các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu chủ lực như: Cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắng... tăng. Riêng nuôi cá tra mặc dù có dấu hiệu khởi sắc nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do các doanh nghiệp gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, dẫn đến giá cá tra nguyên liệu không ổn định trong nhiều tháng qua và liên tục giảm trong tháng Tư. Sản lượng cá tra thu hoạch của các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long trong tháng Tư ước tính đạt gần 80 nghìn tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2011, làm cho sản lượng chung của cá nuôi tăng chậm so với các tháng trước. Một số địa phương có sản lượng cá tra trong tháng đạt thấp là: An Giang 22 nghìn tấn, giảm 29% so với cùng kỳ năm trước; Vĩnh Long 4 nghìn tấn, giảm 65%.

Nuôi tôm phát triển khá thuận lợi, dịch bệnh tuy có xảy ra nhưng không lan trên diện rộng và phần lớn các diện tích bị dịch bệnh đã được xử lý kịp thời nên sản lượng thu hoạch trong tháng đạt khá. Một số địa phương có sản lượng tôm nuôi tăng cao trong tháng Tư là: Cà Mau đạt 11 nghìn tấn, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2011; Bạc Liêu đạt 5 nghìn tấn, tăng 14%.

Nuôi trồng các loại thủy sản khác tương đối ổn định theo hướng đa canh, đa con kết hợp để mở rộng diện tích, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo đảm môi trường sinh thái bền vững. Mô hình nuôi phổ biến tại các địa phương hiện nay là kết hợp tôm – cá; tôm -  cua; tôm – lúa; lúa - cá hoặc nuôi lồng, bè trên biển với các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: Cá mú, cá giò, tu hài...

Thời tiết biển khá thuận cho hoạt động khai thác thủy sản. Sản lượng thủy sản khai thác bốn tháng đầu năm ước tính đạt 833,7 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó khai thác biển đạt 784,8 nghìn tấn, tăng 3,3%. Việc thực hiện tích cực Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ xăng dầu cho tàu có công suất lớn khai thác trên các vùng biển xa bờ, cùng với việc triển khai khẩn trương dự án quan sát bằng vệ tinh cho tàu cá có công suất 90CV trở lên tại các địa phương tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân yên tâm ra khơi đánh bắt.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp bốn tháng đầu năm tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước (Tốc độ tăng cùng kỳ các năm 2010 và 2011 là 7,9% và 10%). Trong đó, công nghiệp khai thác mỏ tăng 2,6%; công nghiệp chế biến tăng 3,8%; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 14%.

Trong ngành công nghiệp khai thác mỏ, sản xuất than bị ảnh hưởng do thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu gặp khó khăn. Sản lượng than bốn tháng giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước; xuất khẩu than giảm 4,2%; tồn kho than sạch đầu tháng Tư là 6 triệu tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả sản xuất của ngành công nghiệp chế biến đạt thấp chủ yếu do kinh tế trong nước và thế giới gặp khó khăn nên nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cho sản xuất và tiêu dùng trong dân cư giảm, thị trường xuất khẩu thu hẹp; lãi suất vay mặc dù đã hạ nhưng vẫn còn ở mức cao. Sản xuất vật liệu xây dựng và các sản phẩm phục vụ xây dựng nhìn chung giảm mạnh. Ngành sản xuất, phân phối điện, ga, nước bốn tháng cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cho sản xuất và sinh hoạt, chủ yếu do một số nhà máy phát điện mới được đưa vào hoạt động cùng với việc huy động năng lực sản xuất điện của nhiều đơn vị ngoài EVN.

Một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất bốn tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Đóng và sửa chữa tàu tăng 173%; chế biến và bảo quản rau quả tăng 46,1%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 19,1%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 17,9%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 17,2%; sản xuất, tập trung và phân phối điện tăng 14,5%; chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 14,4%; sản xuất đường tăng 13,7%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 10,6%. Một số ngành có chỉ số sản xuất tăng khá là: Khai thác, lọc và phân phối nước tăng 8,1%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 6,7%; khai thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 6,4%; sản xuất bia tăng 4,2%. Nhiều ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất gạch, ngói và gốm, sứ