Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2014

Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2014
30/07/2014 10:56:00


Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2014

 

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản                  

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa mùa; thu hoạch lúa hè thu và hoa màu. Tính đến thời điểm 15/7/2014, cả nước đã gieo cấy được 1088,6 nghìn ha lúa mùa, bằng 99% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 953 nghìn ha, bằng 98%, riêng vùng đồng bằng sông Hồng gieo cấy được 481 nghìn ha, bằng 94% cùng kỳ năm 2013; các địa phương phía Nam gieo cấy 135,6 nghìn ha, bằng 106,9%. Do ảnh hưởng của cơn bão số 2 nên các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng và miền núi phía Bắc đã chủ động dừng gieo cấy, tập trung tiêu nước khơi thông dòng chảy, do đó tiến độ chậm hơn so với cùng thời điểm năm trước. Theo báo cáo sơ bộ, mưa lớn đã làm 3,2 nghìn ha lúa mùa bị gãy đổ; 160 ha hoa màu bị ngập, tập trung chủ yếu ở một số chân ruộng thấp tại các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang và Lạng Sơn.

Đến trung tuần tháng Bảy, cả nước gieo cấy được 2083,7 nghìn ha lúa hè thu, bằng 92,5% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy 1635,5 nghìn ha, bằng 93,3%, chủ yếu do một số tỉnh chuyển diện tích trồng lúa sang trồng màu hoặc trồng cây ăn quả như: Bến Tre, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long. Do thời tiết nắng nóng và khô hạn vào thời điểm đầu vụ nên lúa sạ bị khô và chết, nhiều địa phương phải sạ lại lần hai. Diện tích lúa hè thu sớm cho thu hoạch ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 564,2 nghìn ha, bằng 71,4% cùng kỳ năm trước.

Gieo trồng các loại rau, màu được được đẩy nhanh tiến độ. Tính đến giữa tháng Bảy, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 914,6 nghìn ha ngô, bằng 101,5% cùng kỳ năm trước; 104,5 nghìn ha khoai lang, bằng 95,7%; 76,1 nghìn ha đậu tương, bằng 89,5%; 179,7 nghìn ha lạc, bằng 96%; 766 nghìn ha rau, đậu, bằng 104,1%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm không có biến động nhiều, dịch bệnh lớn không xảy ra. Ước tính số lượng trâu của cả nước trong tháng giảm khoảng 1% so với cùng kỳ năm 2013; số lượng bò tăng 0,5% - 1%; số đầu lợn tăng nhẹ và số gia cầm tăng khoảng 1%. Tính đến ngày 22/7/2014, dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh trên lợn và dịch lở mồm long móng đã được khống chế trên cả nước.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 7 năm 2014

Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung tháng Bảy ước tính đạt 33,8 nghìn ha, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2013; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 15,8 triệu cây, giảm 4,2%; sản lượng gỗ khai thác 417,9 nghìn m3, tăng 5,5%; sản lượng củi khai thác 2,48 triệu ste, tăng 3,8%. Tính chung 7 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 105,2 nghìn ha, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 126,5 triệu cây, giảm 1,1%; sản lượng gỗ khai thác 3033,9 nghìn m3, tăng 8,1%; sản lượng củi khai thác 17,85 triệu ste, tăng 3,2%.

Do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng, khô hạn nên xảy ra cháy rừng tại một số tỉnh thuộc khu vực Trung bộ. Diện tích rừng bị cháy trong tháng là 330 ha; diện tích rừng bị chặt phá là 82 ha. Một số địa phương có diện tích rừng bị cháy lớn: Đà Nẵng 106 ha; Quảng Trị 95 ha; Bình Định 69 ha; Phú Yên 49 ha. Tính chung 7 tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 2566 ha, tăng 83,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 2064 ha, tăng 133,3%; diện tích rừng bị chặt phá là 502 ha, giảm 2,8%.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Bảy ước tính đạt 595,9 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó cá đạt 418,5 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 96,2 nghìn tấn, tăng 8,3%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng Bảy ước tính đạt 365 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 257,4 nghìn tấn, tăng 1%; tôm đạt 85,8 nghìn tấn, tăng 9%. Sản lượng tôm nuôi đạt khá do diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tiếp tục tăng và sản lượng đạt khá. Một số địa phương có sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng tăng cao: Trà Vinh đạt 4,7 nghìn tấn, tăng 281,5%; Bạc Liêu đạt 2 nghìn tấn, tăng 391,7%.

Nuôi cá tra vẫn gặp nhiều khó khăn. Sản lượng cá tra trong tháng ở một số địa phương trọng điểm giảm so với cùng kỳ năm trước: An Giang đạt 18,2 nghìn tấn, giảm 4,4%; Cần Thơ đạt 16,6 nghìn tấn, giảm 4,7%.

Khai thác thủy sản trong tháng nhìn chung thuận lợi, sản lượng ước tính đạt 230,9 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khai thác biển đạt 213,7 nghìn tấn, tăng 4,2%. Đánh bắt cá ngừ đại dương được các ngành chức năng quan tâm, hỗ trợ cải tiến phương pháp thu câu và bảo quản sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng nên sản lượng trong tháng đạt khá: Bình Định đạt 604,3 nghìn tấn, tăng 200% so với cùng kỳ năm trước; Phú Yên đạt 125 nghìn tấn, tăng 47,1%; Khánh Hòa đạt 782,6 nghìn tấn, tăng 20%.

Tính chung 7 tháng năm nay, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 3462,4 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2546,8 nghìn tấn, tăng 1,9%; tôm đạt 410,5 nghìn tấn, tăng 18%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Bảy ước tính tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2013 (Quý I tăng 5,3%; quý II tăng 6,9%).

Trong mức tăng chung toàn ngành công nghiệp 7 tháng năm nay, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,1% (Quý I tăng 7,4%; quý II tăng 8,6%), đóng góp 5,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 11,4%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 6,5%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng tiếp tục giảm ở mức 1,7%, làm giảm 0,4 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành sản xuất, một số ngành có chỉ số sản xuất 7 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 34,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 21,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,5%; dệt tăng 19,2%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 18,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 14,7%; sản xuất trang phục tăng 12%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,4%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất kim loại tăng 9,9%; sản xuất đồ uống tăng 7,2%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 3%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 2,6%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 0,8%; khai thác than cứng và than non giảm 3,4%; sản xuất thuốc lá giảm 12,4%...

Trong các sản phẩm sản xuất, một số sản phẩm đạt mức tăng 7 tháng cao so với cùng kỳ năm 2013: Điện thoại di động tăng 37,8%; ô tô tăng 27,3%; thép cán tăng 23,8%; tivi tăng 23,3%; giày, dép da tăng 19,5%; sữa tươi tăng 17,4%; điện sản xuất tăng 11,9%; thủy hải sản chế biến tăng 11,4%; quần áo tăng 10,6%… Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Sữa bột giảm 1%; sơn hoá học giảm 1,2%; dầu mỏ thô khai thác giảm 1,9%; than đá giảm 3,4%; dầu gội, dầu xả giảm 4,1%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 10,7%; thuốc lá điếu giảm 12,6%; xe máy giảm 12,9%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn như sau: Đà Nẵng tăng 10,8%; Quảng Nam tăng 10,2%; Hải Phòng tăng 10%; Hải Dương tăng 8,4%; Đồng Nai tăng 7,8%; Bình Dương tăng 7,7%; Cần Thơ tăng 7,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,2%; Hà Nội tăng 4,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 3,3%; Quảng Ninh tăng 1,3%; Bắc Ninh giảm 2,4%; Quảng Ngãi giảm 21,7%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2014 giảm 0,2% so với tháng trước tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2014, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước (Cao hơn mức tăng 8,3% của cùng kỳ năm 2013). Các ngành có chỉ số tiêu thụ 6 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm 2013: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 40%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 17%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,4%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 6 tháng tăng thấp: Sản xuất trang phục tăng 8,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,9%; dệt tăng 5,7%; sản xuất kim loại tăng 5,2%; sản xuất đồ uống tăng 5,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 4,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 3,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 3,1%.

Tại thời điểm 01/7/2014, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,2% so với cùng thời điểm năm 2013 (Cao hơn mức tăng 8,8% của cùng thời điểm năm trước và cao hơn mức tăng 12,8% của cùng thời điểm tháng trước). Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 8,8%; sản xuất thiết bị điện tăng 4,5%; dệt tăng 1,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 12,3%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 41,9%; sản xuất kim loại tăng 40,4%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 38,4%; sản xuất trang phục tăng 36,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 30,4%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 6 tháng đầu năm nay là 77,2%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 161,2%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 127,1%; sản xuất chế biến thực phẩm 98,2%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/7/2014 tăng 4,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,5%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 5,1% và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,9%. Tại thời điểm trên, chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp khai khoáng tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5%; công nghiệp sản xuất, phân phối điện tăng 3,2%; công nghiệp cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 4%.

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn tại thời điểm 01/7/2014 như sau: Quảng Ninh tăng 11,1% so với cùng thời điểm năm trước; Vĩnh Phúc tăng 8,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 6,3%; Quảng Nam tăng 6,2%; Đồng Nai tăng 4,8%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,4%; Bắc Ninh tăng 2,1%; Đà Nẵng tăng 1,9%; Hải Phòng tăng 1,7%; Cần Thơ tăng 0,6%; Bình Dương tăng 0,2%; Hà Nội tăng 0,2%; Hải Dương giảm 0,1%; Quảng Ngãi giảm 1%.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số sản xuất công nghiệp

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

 

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trong tháng Bảy, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới của cả nước là 5083 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 31518 tỷ đồng, giảm 16,5% về số doanh nghiệp và giảm 45% về vốn đăng ký so với tháng trước. Số lao động dự kiến được tạo việc làm tại các doanh nghiệp mới thành lập trong tháng là 88 nghìn người, giảm 1,1% so với tháng trước.

Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký của cả nước trong tháng Bảy là 4931 doanh nghiệp, giảm 22,6% so với tháng trước, bao gồm: 859 doanh nghiệp giải thể; 950 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 3122 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong tháng Bảy là 1106 doanh nghiệp, giảm 16,7% so với tháng trước.

Tính chung 7 tháng, cả nước có 42398 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 262,4 nghìn tỷ đồng, giảm 7% về số doanh nghiệp và tăng 17,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 7 tháng là 6,19 tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2013. Số lao động dự kiến được tạo việc làm tại các doanh nghiệp mới thành lập trong 7 tháng là 629,2 nghìn người, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước.

Quá trình sàng lọc, đào thải doanh nghiệp diễn ra khá mạnh trong cả nước. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, hoặc ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký của cả nước trong 7 tháng là 37612 doanh nghiệp, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: 5610 doanh nghiệp giải thể; 6774 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn; 25228 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Tổng vốn của các doanh nghiệp thực sự khó khăn, chắc chắn phải ngừng hoạt động là 291,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 84,5% tổng vốn bổ sung thêm trong kỳ. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 7 tháng là 9428 doanh nghiệp, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước.

Về tình hình đăng ký doanh nghiệp theo ngành hoạt động 7 tháng qua, sản xuất, phân phối điện, nước, ga tăng 16% về số doanh nghiệp thành lập mới và giảm 32,8% về số doanh nghiệp khó khăn, giải thể hoặc ngừng hoạt động so với cùng kỳ năm 2013; bán buôn; bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy giảm 16,5% và tăng 12,1%; xây dựng giảm 9,2% và tăng 9,6%.   

Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Bảy ước tính đạt 20756 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 4911 tỷ đồng; vốn địa phương 15845 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 111561 tỷ đồng, bằng 60,2% kế hoạch năm và tăng 3% so với cùng kỳ năm 2013, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 25615 tỷ đồng, bằng 64,8% kế hoạch năm và tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông vận tải là 3449 tỷ đồng, bằng 76,1% và giảm 9,3%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2021 tỷ đồng, bằng 58,2% và giảm 5%; Bộ Xây dựng 1152 tỷ đồng, bằng 56,6% và tăng 5,1%; Bộ Y tế 499 tỷ đồng, bằng 62% và tăng 5,3%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 390 tỷ đồng, bằng 52,8% và tăng 5,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 327 tỷ đồng, bằng 52,3% và tăng 0,6%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 271 tỷ đồng, bằng 59,9% và tăng 0,7%; Bộ Công Thương 188 tỷ đồng, bằng 63,5% và tăng 10,3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 157 tỷ đồng, bằng 56% và giảm 5,1%; Bộ Thông tin và Truyền thông 138 tỷ đồng, bằng 66,4% và giảm 4,8%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 85946 tỷ đồng, bằng 59% kế hoạch năm và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 59590 tỷ đồng, bằng 57,2% và tăng 3,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 21266 tỷ đồng, bằng 62,2% và tăng 3,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 5090 tỷ đồng, bằng 69% và giảm 0,8%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 12691 tỷ đồng, bằng 54,2% kế hoạch năm và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước; Thành phố Hồ Chí Minh 8746 tỷ đồng, bằng 60,3% và tăng 3,2%; Đà Nẵng 2530 tỷ đồng, bằng 58,9% và giảm 5,4%; Bà Rịa - Vũng Tàu 2202 tỷ đồng, bằng 49% và tăng 13,8%; Nghệ An 2164 tỷ đồng, bằng 90,1% và tăng 9%; Thanh Hóa 2149 tỷ đồng, bằng 71,4% và tăng 4,1%; Vĩnh Phúc 2105 tỷ đồng, bằng 59,3% và giảm 9,5%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/7/2014 thu hút 889 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 6858,7 triệu USD, tăng 17,7% về số dự án và giảm 0,9% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 300 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 2677,9 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 9536,6 triệu USD, giảm 19,9% so với cùng kỳ năm 2013. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 7 tháng năm nay ước tính đạt 6,8 tỷ USD, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2013.

Trong 7 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 6662,2 triệu USD, chiếm 69,9% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1130,8 triệu USD, chiếm 11,9%; ngành xây dựng đạt 547,6 triệu USD, chiếm 5,7%; các ngành còn lại đạt 1196 triệu USD, chiếm 12,5%.

Cả nước có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 7 tháng, trong đó Bắc Ninh có số vốn đăng ký lớn nhất với 1261 triệu USD, chiếm 18,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Thành phố Hồ Chí Minh 981,1 triệu USD, chiếm 14,3%; Quảng Ninh 568,4 triệu USD, chiếm 8,3%; Hải Phòng 486,6 triệu USD, chiếm 7,1%; Bình Dương 381,5 triệu USD, chiếm 5,6%; Đồng Nai 342,5 triệu USD, chiếm 5%; Hải Dương 304,7 triệu USD, chiếm 4,4%.

Trong số 44 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư nước ngoài cấp mới tại Việt Nam 7 tháng qua, Hàn Quốc tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với 2407 triệu USD, chiếm 35,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 1004,9 triệu USD, chiếm 14,7%; Nhật Bản 643,4 triệu USD, chiếm 9,4%; Xin-ga-po 592,5 triệu USD, chiếm 8,6%; Đài Loan 405,9 triệu USD, chiếm 5,9%; In-đô-nê-xi-a 352,7 triệu USD, chiếm 5,1%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 254,6 triệu USD, chiếm 3,7%...

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/7/2014

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/7/2014 ước tính đạt 448,9 nghìn tỷ đồng, bằng 57,3% dự toán năm, trong đó thu nội địa 302,9 nghìn tỷ đồng, bằng 56,2%; thu từ dầu thô 57,5 nghìn tỷ đồng, bằng 67,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 87 nghìn tỷ đồng, bằng 56,5%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 98,3 nghìn tỷ đồng, bằng 53,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 66,2 nghìn tỷ đồng, bằng 59,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 61,1 nghìn tỷ đồng, bằng 57%; thuế thu nhập cá nhân 27,4 nghìn tỷ đồng, bằng 57,9%; thuế bảo vệ môi trường 6,4 nghìn tỷ đồng, bằng 50,8%; thu phí, lệ phí 5,8 nghìn tỷ đồng, bằng 55,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/7/2014 ước tính đạt 533,9 nghìn tỷ đồng, bằng 53% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 85,7 nghìn tỷ đồng, bằng 52,6% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 82,5 nghìn tỷ đồng, bằng 52,2%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 382,7 nghìn tỷ đồng, bằng 54,4%; chi trả nợ và viện trợ 65,5 nghìn tỷ đồng, bằng 54,6%.

Thương mại, giá cả và du lịch

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Thị trường hàng hóa bán lẻ và hoạt động dịch vụ trong tháng Bảy nhìn chung không có biến động lớn. Mặc dù hầu hết các siêu thị và trung tâm thương mại thực hiện chương trình khuyến mãi và giảm giá nhiều sản phẩm hàng hóa nhưng sức mua chưa có nhiều cải thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy ước tính đạt 238,7 nghìn tỷ đồng, tăng 0,3% so với tháng trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng nhẹ ở mức 0,3%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 3%; doanh thu dịch vụ lữ hành giảm 3,8%, chủ yếu do mùa du lịch hè của năm đã vào thời điểm cuối nên doanh thu du lịch của một số tỉnh ven biển giảm: Bình Định giảm 5,2%; Phú Yên giảm 3,2%; Hải Phòng giảm 2,7%; Đà Nẵng giảm 1,9%; riêng Hà Tĩnh giảm mạnh ở mức 55,1%.

Tính chung 7 tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1654,9 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng của khu vực kinh tế Nhà nước đạt 166,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và tăng 7,8%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 1431 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,5%, tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 57,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,4%, tăng 26,1%. Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 1242,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,1% tổng mức và tăng 10,1%; dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 202,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,2%, tăng 12,8%; dịch vụ khác đạt 193,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7%, tăng 18,3%; du lịch lữ hành đạt 17 nghìn tỷ đồng, chiếm 1%, tăng 19,4%.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 6/2014 đạt 12,4 tỷ USD, tăng 278 triệu USD so với số ước tính, trong đó hàng dệt may tăng 141 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 87 triệu USD; máy móc, thiết bị, phụ tùng tăng 77 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện giảm 120 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Bảy ước tính đạt 12,4 tỷ USD, tăng 0,2% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Bảy tăng 7,7% với một số mặt hàng đạt kim ngạch tăng cao: Giày dép tăng 19,4%; hàng dệt may tăng 17,4%; hóa chất tăng 55,8%. Tính chung 7 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 83,5 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 27,7 tỷ USD, tăng 12,2% và chiếm 33,2% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 55,8 tỷ USD, tăng 15%. Trong 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực đạt mức tăng cao: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 13,2 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước; hàng dệt, may đạt 11,5 tỷ USD, tăng 19,4%; giày dép đạt 5,8 tỷ USD, tăng 21,8%; thủy sản đạt 4,2 tỷ USD, tăng 25,5%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 4,1 tỷ USD, tăng 22,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,4 tỷ USD, tăng 14,9%; cà phê đạt 2,3 tỷ USD, tăng 22,9%; hạt tiêu đạt 888 triệu USD, tăng 46,1%. Xuất khẩu một số mặt hàng nông sản và nguyên, nhiên, vật liệu giảm cả lượng và giá trị so với cùng kỳ năm trước: Gạo đạt 3,9 triệu tấn, tương đương 1,7 tỷ USD, giảm 8% về lượng và giảm 4,7% về kim ngạch; sắn và các sản phẩm của sắn đạt 2 triệu tấn, tương đương 650 triệu USD, giảm 5,9% và giảm 6,7%; cao su đạt 454 nghìn tấn, tương đương 832 triệu USD, giảm 9,5% và giảm 32%; than đá đạt 4,9 triệu tấn, tương đương 371 triệu USD, giảm 37,6% và giảm 33,9%; xăng dầu đạt 671 nghìn tấn, tương đương 636 triệu USD, giảm 15,7% và giảm 13,6%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, tính đến hết tháng 7/2014, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 15,8 tỷ USD, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm 2013; tiếp đến là EU với 15,5 tỷ USD, tăng 13,4%; ASEAN đạt 10,8 tỷ USD, tăng 0,3%; Trung Quốc đạt 8,6 tỷ USD, tăng 16,9%; Nhật Bản đạt 8,5 tỷ USD, tăng 13,2%; Hàn Quốc đạt 3,6 tỷ USD, tăng 1,9%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 6/2014 đạt 12,4 tỷ USD, cao hơn 130 triệu USD so với số ước tính, trong đó xăng dầu tăng 196 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 100 triệu USD; sắt, thép tăng 69 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện giảm 66 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 53 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Bảy ước tính đạt 12,7 tỷ USD, tăng 1,8% so với tháng trước với kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng: Sắt thép tăng 50,7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 12,8%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép tăng 6,6%; chất dẻo tăng 8,2%. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Bảy tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7,8%, khu vực kinh tế trong nước tăng 21,8%. Tính chung 7 tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 82,2 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 36,2 tỷ USD, tăng 13%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 46 tỷ USD, tăng 10,3%.

Kim ngạch nhập khẩu 7 tháng năm nay tăng có sự đóng góp của một số mặt hàng nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 12,6 tỷ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm 2013; vải đạt 5,5 tỷ USD, tăng 16,7%; chất dẻo đạt 3,6 tỷ USD, tăng 12,7%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 2,7 tỷ USD, tăng 27,1%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2 tỷ USD, tăng 11,9%; kim loại thường khác đạt 1,9 tỷ USD, tăng 17,6%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,7 tỷ USD, tăng 24,4%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,4 tỷ USD, tăng 77,9%; bông đạt 919 triệu USD, tăng 36,3%.

Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu 7 tháng giảm so với cùng kỳ năm 2013: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 9,6 tỷ USD, giảm 3,1%; sắt thép đạt 3,9 tỷ USD, giảm 1,2%; phân bón đạt 675 triệu USD, giảm 31,3%; cao su đạt 360 triệu USD, giảm 10,2%; xe máy và linh kiện, phụ tùng đạt 217 triệu USD, giảm 22,7%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 7 tháng năm nay, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 23,4 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm 2013, nhập siêu từ Trung Quốc ước tính đạt 14,8 tỷ USD, tăng 14,4%; thị trường ASEAN đạt 13,4 tỷ USD, tăng 8,4%; Hàn Quốc đạt 12,3 tỷ USD, tăng 6,3%; Nhật Bản đạt 6,9 tỷ USD, tăng 5,6%; EU đạt 5 tỷ USD, giảm 8,5%; Hoa Kỳ đạt 3,7 tỷ USD, tăng 20,3%.

Nhập siêu tháng Bảy ước tính 250 triệu USD. Xuất siêu 7 tháng là 1,26 tỷ USD, bằng 1,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 9,78 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 8,52 tỷ USD.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Hàng hóa xuất khẩu

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Hàng hóa nhập khẩu

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy tăng 0,23% so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông tăng 0,44%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,43%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,26% (thực phẩm tăng 0,58%, lương thực giảm 0,63%); hai nhóm đồ uống, thuốc lá may mặc, giày dép, mũ nón cùng tăng 0,20%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04%; giáo dục tăng 0,03%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%. Giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng hai đợt vừa qua (thời điểm 23/6 và thời điểm 07/7) đóng góp vào mức tăng CPI tháng Bảy khoảng 0,04%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2014 tăng 1,62% so với tháng 12/2013 và tăng 4,94% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm nay tăng 4,80% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá vàng tháng 7/2014 tăng 1,38% so với tháng trước; tăng 2,66% so với tháng 12/2013 và giảm 2,42% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2014 tăng 0,36% so với tháng trước; tăng 0,68% so với tháng 12/2013 và tăng 0,25% so với cùng kỳ năm trước.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ tháng 7 năm 2014

Vận tải hành khách và hàng hóa 

Vận tải hành khách 7 tháng ước tính đạt 1766,9 triệu lượt khách, tăng 6,7% và 80,6 tỷ lượt khách.km, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 19,8 triệu lượt khách, tăng 4% và 19,8 tỷ lượt khách.km, tăng 5,3%; vận tải địa phương đạt 1747,1 triệu lượt khách, tăng 6,7% và 60,8 tỷ lượt khách.km, tăng 7,1%. Vận tải hành khách đường bộ 7 tháng ước tính đạt 1656,8 triệu lượt khách, tăng 6,8% và 59,1 tỷ lượt khách.km, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 10,7 triệu lượt khách, tăng 7,6% và 16,5 tỷ lượt khách.km, tăng 6,3%; đường sắt đạt 7,4 triệu lượt khách, giảm 1% và 2,7 tỷ lượt khách.km, tăng 0,8%; đường biển đạt 3,2 triệu lượt khách, tăng 4,2% và 144,7 triệu lượt khách.km, tăng 2,4%.

Vận tải hàng hóa 7 tháng ước tính đạt 603,7 triệu tấn, tăng 4,8% và 127,3 tỷ tấn.km, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trong nước đạt 586,4 triệu tấn, tăng 5,1% và 59 tỷ tấn.km, tăng 3,7%; vận tải ngoài nước đạt 17,3 triệu tấn, giảm 4,3% và 68,3 tỷ tấn.km, tăng 2%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 461,4 triệu tấn, tăng 6,2% và 26,3 tỷ tấn.km, tăng 4,3%; đường sông đạt 105,8 triệu tấn, tăng 2,5% và 22,5 tỷ tấn.km, tăng 2,9%; đường biển đạt 32,2 triệu tấn, giảm 5,3% và 75,8 tỷ tấn.km, tăng 2,2%; đường sắt đạt 4,1 triệu tấn, tăng 7,2% và 2,4 tỷ tấn.km, tăng 8,2%.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Vận tải hành khách và hàng hoá

Khách quốc tế đến Việt Nam

Trong 7 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 4852,6 nghìn lượt người, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 2929,6 nghìn lượt người, tăng 13,9%; thăm thân nhân đạt 836,4 nghìn lượt người, tăng 19,5%; đến vì công việc 815,8 nghìn lượt người, tăng 16,1%. Khách quốc tế đến nước ta trong 7 tháng bằng đường hàng không đạt 3871,7 nghìn lượt người, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2013; khách đến bằng đường bộ đạt 938,3 nghìn lượt người, tăng 35%; khách đến bằng đường biển đạt 42,6 nghìn lượt người, giảm 69,4%.

Trong 7 tháng, hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta tăng so với cùng kỳ năm trước: Trung Quốc 1258,3 nghìn lượt người, tăng 26% (Cùng kỳ năm trước tăng 29,2%); Hàn Quốc 462,1 nghìn lượt người, tăng 5,2%; Nhật Bản 362,5 nghìn lượt người, tăng 6,9%; Hoa Kỳ 285,2 nghìn lượt người, tăng 5,9%; Đài Loan 246,2 nghìn lượt người, tăng 8,1%; Cam-pu-chia 229,3 nghìn lượt người, tăng 23%; Nga 216,5 nghìn lượt người, tăng 27%; Ôx-trây-li-a 201 nghìn lượt người, tăng 4,8%; Ma-lai-xi-a 199 nghìn lượt người, tăng 5%; Thái Lan 162,7 nghìn lượt người, tăng 7,2%; Pháp 132,2 nghìn lượt người, tăng 5,8%; Anh 124,4 nghìn lượt người; tăng 17,9%; Xin-ga-po 111,8 nghìn lượt người, tăng 5,5%.

http://www.gso.gov.vn/images/doc_doc.gif

Khách quốc tế đến Việt Nam

Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Bảy, cả nước có 9,6 nghìn hộ thiếu đói, giảm 58,2% so với tháng trước, tương ứng với 41 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 57,7%. So với cùng kỳ năm 2013, số hộ thiếu đói giảm 67,3%; số nhân khẩu thiếu đói giảm 67,2%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 19,7 nghìn tấn lương thực và 19,7 tỷ đồng, riêng tháng Bảy hỗ trợ gần 700 tấn lương thực. 

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Bảy cả nước có 2,2 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó 201 trường hợp dương tính với sởi (2 trường hợp tử vong); 7,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay, chân, miệng; 1,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 18 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 136 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (3 trường hợp tử vong) và 5 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu. Tính chung 7 tháng, trên địa bàn cả nước ghi nhận 33,5 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi (Tính đến thời điểm 17/7/2014), trong đó 5,7 nghìn trường hợp dương tính với sởi (147 trường hợp tử vong); 38,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 12,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (8 trường hợp tử vong); 174 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 455 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (7 trường hợp tử vong); 18 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (3 trường hợp tử vong); 2 trường hợp mắc và tử vong do cúm A(H5N1).

Trong tháng đã phát hiện thêm 613 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống của cả nước tính đến thời điểm 17/7/2014 lên 218,8 nghìn người, trong đó 68,9 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS cả nước tính đến thời điểm trên là 72,3 nghìn người.

Từ đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 76 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 2,6 nghìn người bị ngộ độc, trong đó 18 người bị tử vong. Riêng trong tháng Bảy, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 20 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 756 người bị ngộ độc, trong đó 2 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng Bảy (từ 16/6/2014 đến 15/7/2014), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 793 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1117 vụ va chạm giao thông, làm 699 người chết; 143 người bị thương và 1354 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 11,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 23,6%; số người chết giảm 3,2%; số người bị thương giảm 70,2% và số người bị thương nhẹ giảm 18,8%.

Tính chung 7 tháng năm nay, cả nước đã xảy ra 6140 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8597 vụ va chạm giao thông, làm 5388 người chết; 3290 người bị thương và 10470 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm 2013, số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 4,3%; số vụ va chạm giao thông giảm 20,2%; số người chết giảm 4,4%; số người bị thương giảm 16,6% và số người bị thương nhẹ giảm 20,7%. Bình quân 01 ngày trong 7 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 41 vụ va chạm giao thông, làm 25 người chết, 16 người bị thương và 49 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai

Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, thiên tai xảy ra trong tháng Bảy đã làm 39 người chết và mất tích; 28 người bị thương; 8,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, ngập nước và hư hỏng; 4,3 nghìn ha lúa và 800 ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Các địa phương bị thiệt hại nhiều do thiên tai: Hà Giang 8 người chết và mất tích; hơn 900 ngôi nhà bị sạt lở, ngập nước; gần 800 ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; Lạng Sơn 4 người chết và mất tích; 6 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, ngập nước; 2 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính khoảng 140 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng năm nay, thiên tai đã làm 83 người chết và mất tích; 120 người bị thương; gần 500 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 33,4 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, ngập nước; 21,6 nghìn ha lúa và 22,4 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra từ đầu năm đến nay ước tính khoảng 772 tỷ đồng.

Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Trong tháng Bảy, trên địa bàn cả nước xảy ra 157 vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 5 người chết; 10 người bị thương và thiệt hại ước tính 66 tỷ đồng. Tính chung bảy tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1,6 nghìn vụ cháy, nổ, làm 73 người chết và 115 người bị thương. Thiệt hại do cháy, nổ ước tính khoảng 383,3 tỷ đồng.

Trong tháng đã phát hiện 615 vụ vi phạm quy định về vệ sinh môi trường tại 39 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó 442 vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt hơn 6 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng, cả nước đã phát hiện 3,9 nghìn vụ vi phạm quy định về vệ sinh môi trường, trong đó 2,5 nghìn vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt hơn 467 tỷ đồng.

Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ

In bài
Các tin khác
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng năm 2014
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2014
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2014
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.