Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
03/08/2010 11:18:00

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP Y TẾ NĂM 2008
__________
Thực hiện Chỉ thị số 733/CT-TTg ngày 12/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2008; Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 và Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức, tiêu chí phân bổ dự toán ngân sách nhà nước, Thông tư số 64/2007/TT-BTC ngày 15/6/2007 và Thông tư số 87/2007/TT-BTC ngày 19/7/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2008, thí điểm xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn 2008-2010; Văn bản số 4045/BKH-TH ngày 11/6/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008; Bộ Y tế đã tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ và ngân sách nhà nước năm 2007; xây dựng phương hướng nhiệm vụ và dự toán ngân sách nhà nước năm 2008 và kế hoạch chi tiêu trung hạn giai đoạn 2008-2010 của ngành Y tế và các đơn vị trực thuộc với một số nội dung chính như sau:
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2007
A. Đánh giá một số nhiệm vụ cơ bản đã đạt được
1. Hệ thống y tế tiếp tục được củng cố và phát triển. Đến nay, 100% số xã, phường có cán bộ y tế hoạt động, 69,4% số xã có bác sỹ; 93,7% số xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; 84,5% số thôn bản có cán bộ y tế hoạt động (so với năm 2006, các tỷ lệ tương ứng là 65,1% xã có bác sỹ; 93,3% xã có NHS hoặc YSN; 86,8% thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động), trên 57% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Trên 70% số xã đã thực hiện khám chữa bệnh ban đầu cho người có thẻ BHYT. Do được quan tâm đầu tư nâng cấp, tăng cường cán bộ, thực hiện một số chế độ cho cán bộ y tế xã, nên các trạm y tế xã đã hoàn thành tốt việc triển khai các Chương trình mục tiêu y tế quốc gia trên địa bàn, tổ chức tốt công tác theo dõi và chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc thai sản, tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ y tế, đặc biệt là người nghèo, phụ nữ, trẻ em... Số lượt khám chữua bệnh ở trạm y tế xã tăng cao do triển khai tốt quỹ Khám chữa bệnh cho người nghèo (Quyết định 139), phát triển Bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội.
Triển khai nhiều giải pháp để thực hiện Quyết định 153/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng nhằm từng bước hoàn chỉnh cơ sở vật chất cho các cơ sở y tế nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe nhân dân.
2. Công tác y tế dự phòng
Trước tình hình dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp, ngành Y tế đã chủ động triển khai công tác phòng, chống bệnh dịch: chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển khai các hoạt động giám sát, phát hiện kịp thời, xử lý triệt để ổ dịch, không để bùng phát thành dịch lớn; Phối hợp với các cấp, Bộ, Ban, ngành, đoàn thể trong các hoạt động phòng, chống dịch; tuyên truyền vận động cộng đồng và huy động các nguồn lực tham gia phòng, chống dịch; Chỉ đạo các địa phương, đơn vị kịp thời khắc phục hậu quả lũ lụt, thiên tai, đặc biệt tại các tỉnh miền Trung, không để dịch lớn xảy ra.
- Dịch cúm A (H5N1): phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khống chế dịch cúm A(H5N1) ở gia cầm; giám sát phát hiện, xử lý triệt để dịch cúm A (H5N1) trên người.
- Dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm: phối hợp với các cơ quan, Bộ, ngành triển khai các biện pháp đồng bộ, quyết liệt và đã khống chế được dịch bệnh, không để dịch lan rộng, kéo dài.
Sau khi trường hợp bệnh nhân đầu tiên bị mắc tiêu chảy cấp nguy hiểm vào ngày 23/10/2007 tại huyện Thanh Trì, Hà Nội, Bộ Y tế đã khẩn trương thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch tiêu chảy cấp để chỉ đạo Sở Y tế các tỉnh phía Bắc chủ động phòng chống kịp thời dịch bệnh. Bộ đã thành lập 38 đoàn công tác trực tiếp đi địa phương để chỉ đạo công tác chống dịch, kiểm tra các bệnh viện về công tác điều trị bệnh nhân và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Các cơ quan truyền thông đại chúng cũng đã kịp thời thông tin liên tục 4 biện pháp phòng chống dịch để tuyên truyền cho cộng đồng. Đến ngày 10/12/2007, đã có 14 tỉnh miền Bắc xuất hiện bệnh, tuy nhiên có địa phương chỉ xuất hiện ca bệnh, tính cộng dồn có 1.993 trường hợp mắc, trong đó có 295 ca được xác định là dương tính với phẩy khuẩn tả, các trường hợp nhiễm bệnh đều đã được phát hiện và điều trị kịp thời, không có trường hợp nào tử vong. Sau 40 ngày tích cực dập dịch, tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát.
Tính đến ngày 30/6/2007 lũy tích các trường hợp nhiễm HIV/AIDS được báo cáo trên toàn quốc là 128.367 người nhiễm HIV, trong đó có 25.219 trường hợp đã chuyển thành bệnh nhân AIDS và 14.042 bệnh nhân AIDS đã tử vong. Riêng trong 5 tháng đầu năm 2007, trên tòan quốc báo cáo phát hiện 9.978 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 4.593 bệnh nhân AIDS và 2.072 trường hợp bị tử vong do AIDS. 10 tỉnh, thành phố có số trường hợp nhiễm HIV/AIDS báo cáo nhiều nhất trong 5 tháng đầu năm là: Hà Nội 1.046; Sơn La 541; An Giang 478; Hải Phòng 428; TP.Hồ Chí Minh 418; Nghệ An 393; Nam Định 360; Bà Rịa-Vũng Tàu 319; Thái Nguyên 303 và Ninh Bình 302. Nhiễm HIV vẫn tập trung chủ yếu trong nhóm nguy cơ cao là nghiện chích ma túy và quan hệ tình dục không an toàn. Số nhiễm HIV vẫn tập trung chủ yếu trong nhóm tuổi từ 20 đến 39 chiếm tới 86% trên tổng số người nhiễm HIV được báo cáo.
Chỉ tiêu an toàn truyền máu ước đạt 100%. 70% số người lớn biết cách phòng tránh HIV/AIDS, số người nhiễm HIV/AIDS được quản lý, chăm sóc và tư vấn đạt 70%; công tác giám sát phát hiện, giám sát trọng điểm cũng đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả các dự án thuộc Chương trình mục tiêu y tế phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS và hợp phần Vệ sinh của Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm, ước cả năm có thể hoàn thành các mục tiêu phòng chống bệnh dịch và an toàn thực phẩm năm 2007 đã đề ra. Kết quả cụ thể của từng mục tiêu như sau:
- Phòng chống Sốt rét: không có dịch lớn xảy ra. Số lượng bệnh nhân mắc sốt rét trong 11 tháng năm 2007 là 57.685 trường hợp, giảm 34,4% so với cùng kỳ năm 2006. Tỷ lệ mắc sốt rét năm 2007 là 69/100.000 dân. Tỷ lệ chết do sốt rét là 0,011/100.000 dân. Như vậy cả tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét đều giảm từ 35-65%.
- Phòng chống Lao: Đã triển khai công tác phòng chống lao tại 100% xã, trên 99,9% dân số được bảo vệ, ước cả năm khám, phát hiện và điều trị cho khoảng 110.000 bệnh nhân, giảm tỷ lệ mắc lao mới (AFB+) xuống còn 96/100.000 dân.
- Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm 2,2% so với năm 2006 (23,4%), ước thực hiện năm 2007 dưới 21,2%. Dự kiến đến cuối năm 2008 sẽ phấn đấu đạt được mốc chỉ tiêu của Chiến lược đến năm 2010 là dưới 20%.
- Phòng chống sốt xuất huyết: Năm 2007 ghi nhận 103.112 trường hợp mắc, trong đó có 88 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2006, số mắc tăng 44%, tử vong tăng 38%, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam. Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết là 122/100.000 dân, tỷ lệ tử vong/mắc là 0,085%. Tuy số trường hợp mắc sốt xuất huyết năm 2007 cao hơn so với giai đoạn 1999-2006, nhưng tỷ lệ chết/mắc lại giảm hơn.
- Tiêm chủng mở rộng: Tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc-xin ước đạt trên 90%, tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai đạt trên 80%, tỷ lệ mắc sởi, ho gà, bạch hầu đều giảm so với cùng kỳ 2006. Tiếp tục triển khai tiêm chủng một số loại vắc-xin mới như thương hàn, tả, viêm não, viêm gan B tại các vùng dịch lưu hành.
- Vệ sinh an toàn thực phẩm: Tiếp tục rà soát, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục và nâng cao ý thức của người dân và người cung cấp. Số người sản xuất thực phẩm, kinh doanh thực phẩm có hiểu biết đúng và thực hành đúng về VSATTP đạt 53,8%, 15% số cơ sở sản xuất, chế biến 10 nhóm thực phẩm có nguy cơ cao áp dụng HACCP. Tính đến tháng 12/2007, trong cả nước đã xảy ra 248 vụ ngộ độc thực phẩm với 7.329 người bị ngộ độc, trong đó có 55 người tử vong. So với cùng kỳ năm 2006, số người mắc đã tăng 2,7%, số người tử vong giảm 3,5%.
- Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng cũng đã đạt được những kết quả khả quan, năm 2007 đã triển khai mới tại 790 xã trên cả 64 tỉnh, thành phố (trong đó số xã triển khai quản lý bệnh tâm thần phân liệt là 777 xã và 13 xã triển khai quản lý bệnh động kinh và trầm cảm); Tính cộng dồn số xã đã triển khai đến hết 2007 là 4.951 xã (trong đó tâm thần phân liệt là 4.093 xã, động kinh và trầm cảm là 48 xã). Số bệnh nhân được phát hiện và quản lý năm 2007 là 20.075 người (trong đó tâm thần phân liệt là 17.275 người, động kinh và trầm cảm là 2.800 người); Tính cộng dồn đến hết năm 2007 đã có khoảng 114.810 bệnh nhân được quản lý và điều trị (trong đó tâm thần phân liệt là 105.255 người, động kinh và trầm cảm là 9.555 người).
3. Công tác khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng
- Hệ thống KCB công lập với trên 13.400 cơ sở y tế và 151.671 giường bệnh (không kể giường lưu ở trạm y tế xã) ngày càng được củng cố và phát triển. Công suất sử dụng giường bệnh đạt trên 110%, ước cả năm có khoảng 188 triệu lượt người khám bệnh, bình quân 2,1 lần/người/năm, gần 9 triệu người điều trị nội trú với trên 60 triệu ngày điều trị; trên 23 triệu người điều trị ngoại trú; đã tiến hành khoảng 1,5 triệu phẫu thuật, trên 146 triệu xét nghiệm các loại, trên 11,3 triệu lần chiếu, chụp, trên 8 triệu lần siêu âm. Phát triển các kỹ thuật y tế phổ cập song song với các kỹ thuật cao để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh đa dạng của nhân dân; giải quyết tốt các bệnh thường gặp tại cộng đồng.
- Tổ chức triển khai điều trị cấp cứu kịp thời các bệnh nhân trong vụ dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm, không để xảy ra tử vong. Cấp cứu kịp thời, chuẩn bị đầy đủ lượng máu nên đã cứu sống được nhiều nạn nhân trong vụ sập nhịp cầu dẫn Cần Thơ.
- Chất lượng KCB ở các cơ sở y tế các tuyến, đặc biệt là tuyến TW và ở các thành phố ngày càng được nâng cao. Một số kỹ thuật mới, tiên tiến đã được thực hiện thành công và trở thành thường quy trong các bệnh viện như ghép thận, ghép gan, thụ tinh trong ống nghiệm, phẫu thuật tim hở, thông/nong mạch vành, mổ nội soi, ghép xương, ghép tủy, phẫu thuật mạch máu, thay ổ chỏm khớp, lọc máu, tán sỏi ngoài cơ thể... Nhiều kỹ thuật cao đã được thực hiện ngay tại tuyến tỉnh như: MRI, CT scanner 64 lớp cắt, chụp mạch xóa nền, sinh hóa, huyết học, truyền máu, vi sinh vật; Y học hạt nhân, laser...
- Triển khai tốt công tác chỉ đạo tuyến, đào tạo tại chỗ, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới, nhất là trong lĩnh vực ngoại khoa, cấp cứu đã giúp các bệnh viện tuyến tỉnh nâng cao được chất lượng chuẩn đoán, điều trị.
- Hệ thống y dược học cổ truyền ngày càng được củng cố và phát triển. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quyết định số 222/2003.QĐ-TTg ngày 03/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền đến năm 2010, ngày 09/11/2007 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị số 05/2007/CT-BYT về tăng cường công tác y dược học cổ truyền và ngày 12/11/2007 đã ban hành Quyết định số 39/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế xét, công nhận người có bài thuốc gia truyền. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg ở nhiều địa phương còn chậm và kém hiệu quả. Một số cán bộ ở các địa phương còn chưa quan tâm đầu tư kinh phí và nhân lực một cách thỏa đáng cho y dược học cổ truyền. Hiện đã có 4/64 sở y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có phòng quản lý y dược học cổ truyền, số còn lại đều có chuyên viên chuyên trách hoặc bán chuyên trách; có 51/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có bệnh viện y dược học cổ truyền; trên 90% bệnh viện đa khoa có khoa hoặc tổ y học cổ truyền; trên 60% trạm y tế xã, phường, thị trấn có bộ phận khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho nhân dân (do trạm y tế xã, phường, thị trấn tổ chức hoặc do Chi hội Đông y lồng ghép vào trạm y tế để hoạt động khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền cho nhân dân); có trên 10.000 cơ sở y dược học cổ truyền tư nhân (trong đó có 01 bệnh viện y học cổ truyền tư nhân). Số lượng người bệnh đến khám và điều trị bằng y học cổ truyền ngày càng tăng. Thuốc y học cổ truyền được sử dụng ngày càng phong phú. Đến nay, Bộ Y tế đã cấp số đăng ký cho trên 1.800 chế phẩm thuốc y học cổ truyền, chiếm 22% tổng số thuốc phòng và điều trị bệnh lưu hành trên thị trường.
- Hoạt động hành nghề y tư nhân đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tính đến nay, cả nước đã có trên 30.000 cơ sở hành nghề tư nhân; trong đó có 66 bệnh viện tư, hơn 300 phòng khám đa khoa và 87 nhà hộ sinh. Ngoài ra, hiện đã có 22 bệnh viện tư đã được UBND các tỉnh và Bộ Y tế cho phép thành lập. Các bệnh viện ngoài công lập hiện nay chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Số lượng bệnh viện ngoài công lập, cũng như số giường bệnh của các bệnh viện này còn chiếm tỷ lệ thấp so với các cơ sở y tế công lập; tỷ lệ bệnh viện ngoài công lập là 6% và tỷ lệ giường bệnh là 3% so với tổng số chung. Về nhân lực, tổng số nhân viên y tế là 5.066 người; trong đó có 1.423 bác sỹ, 62 tiến sỹ và thạc sỹ, còn lại là các nhân viên khác. Đa số giám đốc và trưởng phó khoa phòng là những cán bộ y tế trong biên chế đã nghỉ hưu. Như vậy, nhân lực y tế ngoài công lập chỉ chiếm chưa đến 0,2% số cán bộ y tế nói chung ở Việt Nam; số lượng cán bộ y tế ngoài công lập có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm 2,3% trên tổng số. Tuy nhiên, hệ thống y tế ngoài công lập hiện nay hàng năm cũng đã góp phần giảm tải đáng kể cho các cơ sở y tế công lập. Về chuyên môn đã cấp cứu, KCB cho khoảng trên 3 triệu người, phẫu thuật, thủ thuật cho trên 100.000 người bệnh và làm xét nghiệm cận lâm sàng cho trên 2,5 triệu lượt người.
4. Đào tạo, phát triển nhân lực y tế và khoa học công nghệ:
Tiếp tục có những chuyển biến tích cực, mở một số mã ngành đào tạo mới, trong đó có 3 mã ngành đáp ứng cung cấp nhân lực cho hệ thống y tế dự phòng: kỹ thuật dinh dưỡng tiết chế, kỹ thuật kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm, kỹ thuật y tế dự phòng. Bước đầu đáp ứng được nhu cầu cán bộ cho các cơ sở y tế, các chuyên khoa và y tế chuyên sâu; thí điểm triển khai chương trình đào tạo bác sỹ gia đình và đào tạo cho ácc đối tượng thuộc diện tự túc kinh phí; xây dựng và triển khai đề án đào tạo cử tuyển nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho một số tỉnh vùng khó khăn; tiếp tục nâng cấp các trường trung học y tế thành cao đẳng, nâng cấp một số trường cao đẳng thành đại học. Tính đến nay, cả nước có 95 cơ sở đào tạo cán bộ y tế, trong đó có 19 trường đại học/học viện (1 trường mới được nâng cấp năm 2007). Trình độ chuyên môn và năng lực của cán bộ y tế ngày càng được nâng cao. Tinh thần phục vụ tận tụy, hết lòng vì bệnh nhân chiếm tuyệt đại đa số trong cán bộ, công chức, viên chức của ngành Y tế.
Ban hành quy định về tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng đào tạo đại học và cao đẳng y tế, quy định về tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp y tế, quy định tạm thời về tiêu chuẩn chuyên môn cho các cơ sở đào tạo cao đẳng điều dưỡng đa khoa và ban hành công vụ hướng dẫn giám sát kiểm định chất lượng đào tạo các trường cao đẳng và trung cấp y tế.
Về định mức lao động và cơ cấu cán bộ, Bộ Y tế đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ và đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho liên Bộ Y tế-Nội vụ đã ban hành Thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 hướng dẫn định mức biện chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế công lập.
Năm 2007, Bộ Y tế đã cơ bản hoàn thành kế hoạch khoa học công nghệ. Tổng số các đề tài, dự án được phê duyệt là 102 đề tài, trong đó có 55 đề tài độc lập được tuyển chọn rộng rãi và 31 đề tài thuộc Chương trình trọng điểm cấp Bộ và các nghiên cứu thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, các thử nghiệm lâm sàng thuốc.
Từ các kết quả nghiên cứu, Bộ Y tế đã thống nhất quản lý về công tác tiêu chuẩn quản lý chất lượng bảo vệ người tiêu dùng trong các lĩnh vực dược, trang thiết bị y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, y tế dự phòng; xây dựng và áp dụng thực hiện hệ thống quản lý chất lượng trong cơ quan hành chính Nhà nước.
5. Quản lý, sản xuất, cung ứng thuốc tiếp tục có nhiều chuyển biến. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Dược ngày càng được hoàn thiện. Sản xuất, xuất nhập khẩu và cung ứng thuốc 6 tháng đầu năm tăng khoảng 20% so với cùng kỳ năm 2006. Bảo đảm cung ứng đủ thuốc có chất lượng đến người sử dụng với giả cả hợp lý và tương đối ổn định, chỉ số giá nhóm hàng Dược phẩm y tế tăng ở mức thấp hơn tỷ lệ tăng chỉ số giá tiêu dùng chung (chỉ số giá CPI 11 tháng đầu năm 2007 tăng 9,45% trong khi chỉ số giá nhóm hàng Dược phẩm tăng 6,4%). Trong những thời điểm khó khăn như lụt bão, dịch tiêu chảy cấp, tai nạn thương tích vẫn bảo đảm cung ứng kịp thời và đủ thuốc.
Số lượng các cơ sở sản xuất và kinh doanh dược phẩm không ngừng tăng. Tính đến 30/8/2007, cả nước có 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc, trong đó có 110 nhà máy sản xuất thuốc tân dược, 74 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP; 83 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc có nguồn gốc từ dược liệu.
Mạng lưới cung ứng thuốc phát triển rộng khắp toàn quốc. Tính đến 31/8/2007, có 89 doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuốc trực tiêớ, 943 doanh nghiệp kinh doanh thuốc, 373 doanh nghiệp nước ngoài đăng ký cung cấp thuốc vào Việt Nam và có 41.520 cơ sở bán lẻ thuốc, thuốc đạt mức 20.000 người dân/1 cơ sở bán lẻ.
Thuốc lưu hành trên thị trường được tăng cường quản lý chặt chẽ hơn về chất lượng. Phối hợp chặt chẽ với các địa phương, Bộ, ngành liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và thực hiện nhiều giải pháp quản lý nhằm bình ổn giá thuốc trên thị trường, chống thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc.
Sản xuất thuốc trong nước đến hết năm 2007 đã đáp ứng trên 50% nhu cầu thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Tiền thuốc bình quân đầu người đạt 12,69 USD.
Liên Bộ Y tế-Tài chính đã ban hành Thông tư liên Bộ số 10/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 10/8/2007 thay thế cho Thông tư số 20/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/7/2005 về việc đầu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế công lập nhằm thực hiện tốt hơn Luật đấu thầu mua thuốc khám, chữa bệnh.
6. Trang thiết bị y tế
Bộ Y tế cũng đã và đang xây dựng và ban hành các tài liệu cơ sở, dữ liệu thiết bị y tế, mẫu thiết kế để giúp các đơn vị y tế công lập và ngoài công lập có cơ sở tham khảo trong quá trình xây dựng dự án đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế đảm bảo yêu cầu chuyên môn kỹ thuật.
Xã hội hóa trong lĩnh vực thiết bị y tế ngày càng mở rộng và đa dạng. Đã thành lập Tổng công ty trang thiết bị y tế, cổ phần hóa các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực trang thiết bị y tế.
Các hoạt động liên doanh liên kết, đầu tư lắp đặt thiết bị y tế tại các bệnh viện công được thực hiện rộng rãi. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, một số thiết bị y tế hiện đại, có giá trị lớn trong chuẩn đoán và điều trị hiện nay như: hơn 100 hệ thống CT Scanner các loại, 20 hệ thống Cộng hưởng từ (MRI), 03 hệ thống chụp mạch Angiography, 4 hệ thống dao mổ Gamma, 3 hệ thống gia tốc tuyến tính, 11 thiết bị tán sỏi ngoài cơ thể. Ngoài ra, các thiết bị khác như: Laser Excimer, phẫu thuật Phaco. X-quang số hóa, nội soi các loại, siêu âm màu, các máy xét nghiệm sinh hóa, huyết học và miễn dịch, cũng được nhiều đơn vị liên kết, đầu tư lắp đặt, giúp cho các cơ sở có điều kiện tốt hơn để phục vụ người bệnh.
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 15 phân cấp cho các đơn vị tự quyết định việc mua sắm trang thiết bị thuộc nguồn kinh phí xã hội hóa.
7. Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, Dân số-Kế hoạch hóa gia đình:
Theo báo cáo của các trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, tính đến tháng 9/2007 thì tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý là 89,9% (tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2006). Tỷ suất mắc và chết do tai biến sản khoa đều giảm so với năm 2006. Năm 2007 đã có 81 ca tử vong mẹ so với 103 ca năm 2006. Tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 5 tuổi và suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tiếp tục giảm. Hoạt động chăm sóc sức khỏe vị thành niên và thanh niên được các Bộ, ngành và địa phương tham gia ủng hộ tích cực, đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện để thực hiện các mục tiêu của kế hoạch tổng thể quốc gia về chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên.
Chỉ tiêu giảm mức sinh có khả năng không đạt so 6 tháng đầu năm có 544.800 trẻ em sinh ra, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2006, số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên là 56.000 cháu, tương đương với cùng kỳ 2006, tỷ suất sinh thô năm 2007 ước đạt khoảng 17,45o/oo, giảm 0,25o/oo so với năm 2006 và không đạt chỉ tiêu mức giảm sinh do Quốc hội giao là 0,3o/oo. Theo báo cáo của các địa phương, số trẻ sinh ra trong 11 tháng là 1.088.916 cháu, tăng 5.836 cháu (tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2006); Trong đó một số tỉnh có tỷ lệ tăng rất cao như Cao Bằng 33%, Phú Thọ 13%; Số người mới đặt vòng tránh thai trong 11 tháng năm 2007 là 1.324.530 người, giảm 70.018 người, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm 2006, ước đạt 92% kế hoạch năm; Số người mới triệt sản trong 11 tháng năm 2007 là 27.068 người, giảm 1.489 người, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2006, ước đạt 77% kế hoạch năm, trong đó một số tỉnh đạt rất thấp như Hà Nam 18%, Hưng Yên 30%.
8. Về chính sách tài chính và đầu tư
- Về sửa đổi viện phí và khám chữa bệnh cho người nghèo: Tiếp tục thực hiện tốt chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo, chính sách khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi. Bộ Y tế đã phối hợp với các Bộ liên quan ban hành Thông tư số 03/2006/TTLT-BYT-BTC-BLĐTB&XH ngày 26/01/2006 bổ sung Thông tư liên bộ số 14/TTLB ngày 30/9/1995 về danh mục các dịch vụ y tế phát sinh nhưng chưa được quy định trong khung giá; ban hành Thông tư liên tịch số 13/2006/TTLT ngày 14/11/2006 sửa đổi, bổ sung Thông tư 14/TTLB ngày 30/9/1995 về hướng dẫn thu một phần viện phí. Về đề án viện phí mới và sửa đổi Quyết định 139 về khám chữa bệnh cho người nghèo, theo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế đã chỉnh sửa lại và đang tiếp tục xin ý kiến các Bộ, ngành có liên quan để hoàn chỉnh và trình Chính phủ vào đầu năm 2008.
- Về BHYT, Bộ Y tế đã xây dựng dự thảo Luật BHYT và Chiến lược phát triển BHYT toàn dân. Tuy nhiên do đây là những lĩnh vực phức tạp và cần có thêm thời gian để chuẩn bị nên Bộ Y tế đã báo cáo Chính phủ và đã được Chính phủ cho phép lùi tiến độ để tiếp tục nghiên cứu và hoàn chỉnh thêm.
- Về đầu tư: Triển khai nhiều giải pháp để thực hiện Quyết định 153/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng như: Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 về đầu tư xây dựng trạm y tế xã thuộc vùng khó khăn giai đoạn 2008-2010; xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án Nâng cấp các bệnh viện đa khoa vùng và một số bệnh viện đa khoa tỉnh giai đoạn 2007-2012, Đề án hỗ trợ phát triển trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện theo Quyết định số 1402/QĐ-TTg ngày 15/10/2007; tiếp tục triển khai dự án Nâng cao năng lực cấp cứu ngoại khoa, chấn thương cho 6 bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Việt Đức... nhằm từng bước hoàn chỉnh cơ sở vật chất cho các cơ sở y tế, nâng cao cao năng lực chăm sóc sức khỏe nhân dân.
9. Xã hội hóa các hoạt động y tế theo Nghị quyết 05 của Chính phủ
Trong số 54 tỉnh có báo cáo gửi Bộ Y tế, có 46 tỉnh, thành phố đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án phát triển xã hội hóa; thành lập Ban chỉ đạo triển khai Đề án do Lãnh đạo tỉnh, thành phố trực tiếp phụ trách. Tỉnh ủy và HĐND của nhiều địa phương cũng đã có Nghị quyết riêng để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 05; xây dựung Đề án, Kế hoạch để triển khai công tác xã hội hóa theo tinh thần của Nghị quyết 05, trình UBND tỉnh, HĐND tỉnh phê duyệt. Có một số địa phương giao cho các ngành, các cấp nghiên cứu, xây dựng đề án xã hội hóa để thông qua theo thẩm quyền và xây dựng kế hoạch hành động để triển khai thực hiện theo lĩnh vực phụ trách.
- Về việc thực hiện Nghị định 43 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập: Sau khi ban hành Nghị định 43 các đơn vị sự nghiệp y tế đã thực hiện Nghị định 10 tiếp tục chuyển sang thực hiện Nghị định số 43. Một số đơn vị sự nghiệp y tế chưa thực hiện Nghị định 10 thì từ giữa năm 2006 đã khẩn trương xây dựng Đề án để trình cấp có thẩm quyền giao thực hiện Nghị định 43 ngay trong năm 2006. Các đơn vị còn lại đã tổ chức quán triệt và tích cực xây dựng kế hoạch và đề án để thực hiện trong giai đoạn 2007-2009.
Bộ Y tế hiện quản lý 73 đơn vị sự nghiệp công lập. Đến 31/12/2006, Bộ Y tế đã giao thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho 28 đơn vị sự nghiệp công lập (trong đó có 20 đơn vị đã giao thực hiện Nghị định 10 và 8 đơn vị giao thực hiện Nghị định 43). Đến 30/6/2007, Bộ Y tế đã giao thực hiện Nghị định 43 cho 100% các bệnh viện (trong đó có Bbệnh viện Nội tiết tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên); các cơ sở y tế dự phòng, đào tạo trực thuộc Bộ cũng đã được giao tự chủ một phần kinh phí hoạt động thường xuyên.
Đối với các Bộ, ngành khác (không kể Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) cũng đã có 32 cơ sở khám chữa bệnh được giao quyền tự chủ theo quy định của Nghị định 43. Đối với các địa phương, theo tổng hợp báo cáo cập nhật mới nhất cảu 49 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì đã có 667/743 bệnh viện (chiếm 90%) và 745/824 cơ sở y tế khác (chiếm 90%) đã được giao thực hiện Nghị định 43. Việc thực hiện Nghị định 43 về tự chủ tài chính là khá tốt, tuy nhiên tự chủ về tổ chức và biên chế thì còn nhiều khó khăn. Bộ Y tế đang phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Nghị định 43 về tổ chức bộ máy, biên chế và lao động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.
- Về việc thực hiện Nghị định 115 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp khoa học: Hiện nay, Bộ Y tế đang phối hợp với Bộ Khoa học-Công nghệ rà soát lại để chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc Bộ sang mô hình đơn vị sự nghiệp khoa học hoạt động theo Nghị định 115. Đối với các địa phương, theo báo cáo mới có 02 đơn vị được giao thực hiện theo Nghị định 115 (ở Hà Tĩnh và Bình Định).
- Về việc thực hiện Nghị định 53 ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập: Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Thông tư số 91/2006/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006, trong đó có hướng dẫn về việc chuyển cơ sở bán công sang loại hình ngoài công lập. Bộ Y tế có 4 đơn vị sự nghiệp trực thuộc bộ máy tổ chức mô hình bộ phận bán công trong đơn vị. Trong thời gian vừa qua, Bộ Y tế đã chuyển 2 đơn vị sang tổ chức trực thuộc đơn vị sự nghiệp (Đại học Y Thái Bình, Viện SR-KST-CT Quy Nhơn); đang đề xuất 1 đơn vị sang mô hình doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Đại học (Bệnh viện Đại học Y-Dược TP.HCM). Bộ Y tế đang chỉ đạo Bệnh viện Mắt TW, đơn vị nghiên cứu đề xuất để sắp xếp lại. Theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố, các địa phương có 7 cơ sở y tế hoạt động theo mô hình bán công, hiện nay đang sắp xếp lại. Tuy nhiên, cơ chế chuyển đổi cụ thể vẫn còn nhiều khó khăn và cần được các Bộ, ngành hướng dẫn cụ thể thêm.
Kết quả triển khai ban đầu của các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ cho thấy các đơn vị này đã huy động thêm được nguồn vốn phát triển hoạt động sự nghiệp, huy động các nguồn vốn để đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị; vay các tổ chức tín dụng, huy động vốn từ cán bộ công nhân viên, từ các nhà đầu tư thông qua hoạt động liên doanh liên kết lắp đặt các trang thiết bị y tế đắt tiền để phục vụ nhu cầu CSSK của nhân dân. Theo thống kê của Bộ Y tế, nguồn vốn XHH trang thiết bị huy động được lên đến hơn 2.000 tỷ đồng, trong đó khối Trung ương là gần 1.000 tỷ đồng, và khối địa phương là 1.200 tỷ đồng. Nhiều cơ sở đã đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ như: tự chọn buồng bệnh, chọn thầy thuốc và tự nguyện yêu cầu sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao...
Nguồn thu của các cơ sở tăng lên, cùng với nguồn NSNN nâng cao chất lượng dịch vụ. Thu nhập của người lao động cũng tăng lên nhờ đổi mới quản lý, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Năm 2006, mức thu nhập tăng đối với các đơn vị trung ương: dưới 1 lần lương chiếm 78%, từ 1-2 lần lương chiếm 18%, từ 2-3 lần lương chiếm 3,6%; đối với các địa phương: dưới 1 lần lương chiếm 82%, từ 1-2 lần lương chiếm 15,5%, từ 2-3 lần lương chiếm 2,5%.
Các đơn vị đã xây dựng và công bố công khai quy định quản lý tài chính và chế độ chi tiêu nội bộ để tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển các hoạt động sự nghiệp, khai thác các nguồn thu, tăng thu, tiết kiệm chi. Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ được bàn bạc dân chủ, thống nhất trong nội bộ đơn vị, tạo sự đồng thuận nhất trí trên cơ sở đó thúc đẩy hoạt động của đơn vị.
Cơ chế giao quyền tự chủ đã tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội bộ, phát huy tính dân chủ, sáng tạo, nâng cao kỹ năng quản lý và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị; bước đầu rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính đối với đơn vị sự nghiệp, từng bước xóa bỏ hành chính hóa, từng bước giảm dần sự can thiệp trực tiếp đối với hoạt động của đơn vị sự nghiệp.
10. Công tác pháp chế, thi đua-khen thưởng, truyền thông giáo dục sức khỏe và quản lý báo chí:
Xây dựng và trình Quốc hội, Chính phủ ban hành Luật phòng, chống các bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 của Quốc hội khóa 12, kỳ họp thứ hai, Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), 3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 2 Chỉ thị của Chính phủ. Bên cạnh đó là một loạt các Dự thảo Nghị định của Chính phủ và Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hiện đã trình Chính phủ và đang chờ phê duyệt. Ngoài ra, trong năm 2007, Bộ trưởng Bộ Y tế cũng đã ban hành 7 Thông tư, 5 Chỉ thị, 40 Quyết định và 4 Thông tư liên tịch để hướng dẫn thực hiện các vấn đề của ngành Y tế.
Làm thủ tục đề nghị phong tặng Danh hiệu Anh hùng lao động cho 2 tập thể và 2 cá nhân, 76 Huân chương lao động cho 51 tập thể và 25 cá nhân, 1 Huân chương Sao Vàng cho 1 tập thể, 11 Huân chương độc lập cho 10 tập thể và 1 cá nhân, 3 danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới cho 2 tập thể và 1 cá nhân, 83 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Xét tặng 3.342 Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế, 10.788 kỷ niệm chương "Vì sức khỏe nhân dân", 112 Chiến sỹ thi đua cấp Bộ và 353 tập thể đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc.
Thông tin, tuyên truyền các thành tựu của ngành Y tế trong năm 2006 và phòng, chống dịch bệnh, quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thực hiện kết luận của Bộ Chính trị về một số bienẹ pháp tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí trong hệ thống báo chí ngành Y tế. Biên soạn sách "Y tế Việt Nam với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng", "Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú" tập 3.
11. Một số công tác khác:
- Thành lập hội đồng tư vấn truyền máu quốc gia theo Quyết định số 3631/QĐ-BYT ngày 25/9/2007. Tăng cường các cuộc vận động về hiến máu nhân đạo, đồng thời với tổ chức lễ tôn vinh người hiến máu tình nguyện không lấy tiền. Tỷ lệ hiến máu tình nguyện không lấy tiền năm 2007 đạt 67% trên tổng số lượng máu thu gom trên toàn quốc.
- Xây dựng thông tư hướng dẫn khám sức khỏe, xây dựng tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Công tác giám định y khoa, giám định pháp y và giám định sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm và triển khai có hiệu quả
12. Một số các chỉ tiêu y tế:
STT
Chỉ tiêu
Ước thực hiện
Mục tiêu đến 2010
1.
Tuổi thọ trung bình (tuổi)
>71,5
72,0
2.
Tỷ lệ chết trẻ em <1 tuổi (o/oo)
16,0
16,0
3.
Tỷ lệ chết trẻ em <5 tuổi (o/oo)
27,5%
< 25,0
4.
Tỷ lệ sơ sinh < 2.500 gr (%)
5,1
<5
5.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi (%)
<21,2
<20
6.
Tỷ lệ tử vong mẹ (trên 100.000)
80
<60
7.
Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ (%)
95,7
>95
8.
Tỷ lệ xã có bác sỹ (%)
69,4
80
9.
Tỷ lệ xã có NHS hoặc YSSN (%)
93,7
100
10.
Tỷ lệ thôn bản có nhân viên y tế (%)
95
100
11.
Số bác sỹ/10.000 dân
6,03
7
12.
Số dược sỹ/10.000 dân
08
1
13.
Số giường bệnh công lập/10.000 dân
18
20,5 (có 2g NCL)
14.
Tỷ lệ xã có trạm y tế
98,2
100
15.
Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia (%)
57
75
B. Đánh giá tình hình thực hiện dự toán NSNN toàn ngành năm 2007
Dự toán chi ngân sách nhà nước cho ngành y tế (đã bao gồm cả chi khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi và khám chữa bệnh cho người nghèo; chưa bao gồm chi y tế trong chi của lĩnh vực an ninh quốc phòng) là 20.680 tỷ đồng, ước thực hiện 20.680 tỷ đồng, đạt 100%.
1. Chi đầu tư phát triển: Dự toán 6.020 tỷ đồng, ước thực hiện 6.020 tỷ đồng, đạt 100%, gồm:
a) Ngân sách TW 2.902,2 tỷ đồng; trong đó Bộ Y tế 528 tỷ đồng; các Bộ, ngành 50 tỷ đồng, 900 tỷ đồng bổ sung có mục tiêu để các địa phương thực hiện đề án nâng cấp hệ thống y tế tỉnh, huyện; 170 tỷ đồng vốn CTMTQG; 454,2 tỷ đồng vốn ngoài nước...
b) Cân đối từ ngân sách địa phương khoảng 3.117,8 tỷ đồng.
* Đánh giá việc thực hiện đề án nâng cấp bệnh viện huyện: Nhu cầu vốn để thực hiện Đề án là 8.350 tỷ đồng, thời gian trong 4 năm (2005-2008) nhưng tổng vốn đầu tư từ tất cả các nguồn trong 3 năm vừa qua (2005-2006-2007) mới được khoảng 2.000 tỷ đồng, đạt 24%, trong đó Ngân sách TW dự kiến hỗ trợ 3.920 tỷ đồng nhưng 3 năm mới được 1.202 tỷ đồng, đạt 30,6% (2005 là 263 tỷ, 2006 là 279 tỷ, năm 2007 là 660 tỷ). Theo quyết định của Thủ tướng, các địa phương phải bố trí hàng năm khoảng 1.000 tỷ đồng, nhưng thực tế chỉ được khoảng 300 tỷ đồng/năm. Nhiều tỉnh chưa thực hiện tăng 20% vốn đầu tư của địa phương cho y tế và dành 30% cho huyện như Quyết định của Thủ tướng mà chờ trung ương hỗ trợ. Một số tỉnh còn chưa sử dụng đúng mục tiêu được bổ sung, phân bổ còn dàn trải, chưa đúng trọng tâm, trọng điểm.
* Đối với các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, nhu cầu vốn để đầu tư nâng cấp cũng rất lớn, đặc biệt là xây dựng cơ sở hạ tầng để tiếp nhận một số nguồn vốn ODA trong thời gian tới như vay JBIC, WB, ADB... nhưng mức vốn được bố trí hàng năm còn rất thấp, nhiều dự án UBND tỉnh phê duyệt 300-500 tỷ đồng nhưng chỉ bố trí được 10-15 tỷ đồng/năm nên tiến độ thực hiện rất chậm.
2. Chi sự nghiệp y tế: Dự toán 14.660 tỷ đồng (tăng 22,6% so với 2006), ước thực hiện 14.660 tỷ đồng, đạt 100% gồm:
a) Ngân sách địa phương 11.518 tỷ đồng, chiếm 78,6%;
Số ngân sách này được phân bổ cho các địa phương theo định mức chi quy định tại Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg, trong đó đã bố trí:
- Chi khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi với mức 108.000 đồng/trẻ.
- Chi khám, chữa bệnh cho người nghèo với mức 80.000 đồng/người.
b) Ngân sách trung ương 3.142 tỷ đồng,chiếm 21,4% tăng 18,4% so với dự toán năm 2006, trong đó:
- Chi sự nghiệp y tế của Bộ Y tế là 1.150 tỷ đồng.
- Chi sự nghiệp của các Bộ, cơ quan trung ương 117,1 tỷ đồng.
- Chi chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS 1.010 tỷ đồng, tăng 18,1% so với dự toán năm 2006; Chương trình mục tiêu quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm 85 tỷ đồng. Trong đó có 310 tỷ đồng vốn ngoài nước, vốn trong nước là 700 tỷ đồng, bổ sung có mục tiêu cho các địa phương là 422 tỷ đồng, chiếm 60%.
3. Dự toán chi từ nguồn thu khác là 8.521 tỷ đồng, ước thực hiện 8.612,2 tỷ đồng.
C. Một số khó khăn, tồn tại và thách thức
1. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng nhanh và biến đổi
Nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng tăng, nhiều kỹ thuật mới có chi phí lớn được thực hiện, cơ cấu bệnh tật thay đổi, các bệnh dịch nguy hiểm mới xuất hiện (như cúm H5N1, SARS, Ebola,...) hoặc có xu hướng quay trở lại như sốt xuất huyết, sốt rét... Nhiều vấn đề sức khỏe bức xúc cần phải giải quyết như vấn đề an toàn thực phẩm, phòng chống HIV/AIDS... Số đối tượng người nghèo, chính sách xã hội do nhà nước phải đảm bảo chi phí khám chữa bệnh ngày càng lớn, nhưng nguồn tài chính và khả năng đáp ứng, cung cấp các dịch vụ y tế của các cơ sở có giới hạn. Các chính sách về BHYT, viện phí, BHYT cho người nghèo, KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi... bước đầu đã phát huy tác dụng, được nhân dân và xã hội hoan nghênh nhưng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Vẫn còn một số địa phương chưa đảm bảo mức chi sự nghiệp y tế từ ngân sách địa phương theo đầu dân quy định tại Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và dự toán đã thống nhất với Bộ Tài chính (một số địa phương mới bố trí vốn bằng 80-90%) nên định mức phân bổ ngân sách cho các bệnh viện, các đơn vị y tế dự phòng còn thấp, riêng tiền lương và các khoản chi cho con người đã chiếm tới 70-80% nên không có kinh phí để chi cho hoạt động, sửa chữa, duy tu bảo dưỡng tài sản dẫn đến xuống cấp nhanh. Mức chi cho y tế dự phòng còn chưa tương xứng với vai trò và nhiệm vụ để đảm bảo tính bền vững của các thành tựu y tế dự phòng. Một số nội dung chi đã được Thủ tướng quyết định nhưng chưa được bố trí kinh phí như phòng chống các bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư,... Một số tỉnh bố trí đủ định mức theo Quyết định 151/2006/QĐ-TTg nhưng tất cả kinh phí đều dành cho khám chữa bệnh là chưa thực hiện đúng theo tinh thần Quyết định 151.
2. Đầu tư ngân sách Nhà nước có tăng, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu. Chi NSNN cho y tế trong thời gian qua có tăng về số lượng tuyệt đối, nhưng tỷ lệ chi cho y tế trong tổng chi NSNN thì hầu như không tăng. Chi NSNN cho y tế thấp và chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của công tác CSSK nhân dân. Năm 2000, tỷ lệ chi tiêu công trong tổng chi cho y tế ở Việt Nam chỉ đạt 20% nên Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp Việt Nam đứng thứ 187/191 nước thành viên khi xét về tính "công" trong tài chính y tế, tức là chi NSNN cho CSSK quá ít. Tỷ lệ này hiện nay là khoảng 30%, trong khi đó WHO khuyến cáo chi tiêu công tối thiểu phải đạt 50% tổng chi cho y tế của toàn xã hội để đảm bảo tính công bằng trong CSSK.
Trong khi nhu cầu CSSK của nhân dân ngày càng tăng nhanh về số lượng và chất lượng, nhu cầu đầu tư cho y tế theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg là rất lớn, nhưng nguồn vốn lại rất hạn chế. Ước tính, nhu cầu đầu tư toàn Ngành giai đoạn 2008-2010 khoảng trên 32.000 tỷ đồng, với mức đầu tư như hiện nay mỗi năm khoảng 6.000-7.000 tỷ đồng thì tối đa chỉ có thể được khoảng 20.000 tỷ đồng, còn thiếu trên 12.000 tỷ đồng. Do đầu tư thấp nên tiến độ thực hiện các chương trình, dự án y tế chậm, đầu tư chưa đồng bộ giữa cơ sở vật chất, trang thiết bị với đào tạo cán bộ, dẫn đến hiệu quả đầu tư còn hạn chế. Do vậy rất cần phải có sự đầu tư bứt phá của nhà nước trong thời gian tới để tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp các cơ sở y tế các tuyến theo Quy hoạch tổng thể và theo các đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhằm bảo đảm khám, chữa bệnh cho nhân dân ngay tại địa bàn.
3. Xã hội hóa công tác y tế đã thu được những kết quả ban đầu khả quan, nhưng quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc. Chủ trương thúc đẩy XHH các hoạt động y tế là đúng đắn, nhưng Nhà nước vẫn phải coi y tế là một loại dịch vụ công cơ bản, mọi người đều có quyền được hưởng các dịch vụ CSSK một cách hợp lý, công bằng. Có những quan điểm yêu cầu áp dụng các quy luật của "cơ chế thị trường" vào lĩnh vực y tế là không phù hợp, vì CSSK là loại dịch vụ" đặc biệt, rất khác so với các loại dịch vụ xã hội khác. Nếu quá tập trung vào XHH, thúc đẩy cơ chê cạnh tranh, huy động tối đa nguồn lực đầu tư ngoài NSNN, từ túi người dân để đầu tư cho y tế thì nguy cơ mất công bằng trong CSSK là rất rõ rệt. Vì vậy, việc đảm bảo công bằng trong CSSK, hỗ trợ người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách xã hội, các đối tượng thiệt thòi phải được thực hiện tốt trước khi đẩy mạnh xã hội hóa, đảm bảo công bằng xã hội trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế.
Quy mô, tốc độ phát triển xã hội hóa còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của nhiều địa phương và đơn vị. Việc phát triển xã hội hóa còn không đồng đều giữa các vùng và các lĩnh vực, mới chủ yếu tập trung ở các vùng thành phố, đông dân cư và các lĩnh vực dễ thu hồi vốn. Những địa phương khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, lĩnh vực y tế dự phòng, nâng cao sức khỏe... vẫn chủ yếu là y tế Nhà nước chịu trách nhiệm.
Vấn đề tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, do chính sách viện phí chưa được điều chỉnh nên gây khó khăn rất nhiều cho các bệnh viện trong việc tự hạch toán, cân đối thu chi. Vấn đề tự chủ về tổ chức bộ máy và biên chế vẫn còn lúng túng và chưa có hướng dẫn cụ thể, khiến các đơn vị chưa thực sự chủ động trong việc tự chủ việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.
Việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chất lượng hoạt động còn chậm, chưa có hệ thống đánh giá kết quả hoạt động thích hợp. Năng lực quản lý của đội ngũ quản lý bệnh viện còn hạn chế do chưa được đào tạo đầy đủ, chưa đáp ứng được với nhu cầu quản lý mới theo cơ chế tự chủ trong nền kinh tế thị trường. Nghị định 53 về việc chuyển các cơ sở bán công thành công lập hoặc ngoài công lập (hoặc cổ phần) vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể của các Bộ, nên việc triển khai thực hiện rất khó khăn, nhiều vướng mắc.
Về nguồn nhân lực y tế, khi thúc đẩy xã hội hóa, tính cạnh tranh của thị trường lao động y tế sẽ tăng nhanh. Tình trạng CBYT chuyển từ y tế công sang y tế tư ngày càng phổ biến. Vì vậy, cần có chế độ và chính sách để đảm bảo cân đối nguồn nhân lực y tế trong hệ thống y tế nói chung, cả y tế công và tư. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho y tế tư nhân hiện nay vẫn còn hạn chế. Chưa có chính sách đầy đủ về đào tạo cán bộ, tôn vinh, khen thưởng các mô hình y tế tư nhân hoạt động tốt.
Các cơ sở y tế ngoài công lập nhiều, nhưng quy mô còn nhỏ bé, chất lượng cung cấp các dịch vụ còn hạn chế (chủ yếu chỉ mới cung cấp các dịch vụ KCB ngoại trú). Chính phủ có chủ trương và nhiều chính sách khuyến khích phát triển các bệnh viện tư, nhưng số lượng các bệnh viện tư vẫn chưa nhiều, và hầu hết là các bệnh viện quy mô nhỏ (30-50 giường bệnh), vì thế chưa có đóng góp nhiều trong công tác điều trị nội trú. Quy mô y tế tư còn nhỏ bé, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nên còn có tình trạng lạm dụng dịch vụ, chủ yếu làm các dịch vụ thu hồi vốn nhanh "hớt váng", những dịch vụ khó đẩy vào cho cơ sở công lập.
Về đất đai, chính sách ưu đãi của nhà nước đã ban hành nhưng thực tế thực hiện gặp nhiều khó khăn. Đất đai, cơ sở hạ tầng ưu đãi cho cơ sở ngoài công lập thì hầu như không thực hiện được do quỹ đất ở các khu trung tâm đều rất ít, đất xa thành phố, xa khu dân cư thì các cơ sở y tế tư nhân khó hoạt động hiệu quả.
Về vốn vay, các nhà đầu tư cho y tế tư nhân khó tiếp cận được với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi; huy động vốn còn hạn chế, chủ yếu mới từ vay vốn lãi suất cao, vốn của các cá nhân và tổ chức.
Chính sách thuế cũng còn nhiều bất cập, chưa công bằng và không khuyến khích các hoạt động xã hội hóa. Các bệnh viện tư hoạt động dưới dạng doanh nghiệp thì phải đóng thuế thu nhập 28% chứ không được hưởng mức thuế 10% như quy định tại Nghị định số 53 của Chính phủ.
4. Chính sách tài chính y tế cần tiếp tục được điều chỉnh.
Cơ chế, chính sách tài chính y tế, mô hình quản lý tài chính y tế cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng với thực tiễn hoạt động của các cơ sở y tế trong nền kinh tế thị trường. Việc cải cách, đổi mới cơ chế tài chính y tế còn chậm trong cả khâu ban hành và khâu thực hiện, cụ thể:
- Chính sách viện phí: Hiện nay vẫn là thu một phần viện phí theo Nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ. Mức thu của một số dịch vụ thực hiện theo Thông tư số 14/TTLB của liên Bộ từ năm 1995 đến nay vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung, có rất nhiều bất cập (ví dụ: mức thu khám bệnh 1.000-3.000 đồng/lần khám bệnh; giường bệnh: 5.000/người/ngày... là quá thấp, chỉ bằng 1/10 so với chi phí cần thiết). Mặc dù tháng 01/2006, Liên bộ đã ban hành TTLB số 03/2006/TTLB bổ sung khung giá của khoảng 1.000 dịch vụ nhưng vẫn chỉ là giải pháp tình thế, chưa thể giải quyết một cách căn bản việc thu và sử dụng viện phí.
- BHYT đã góp phần bảo đảm nguồn tài chính để khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho khoảng 45% dân số (theo báo cáo của BHUT, đến hết năm 2006 có khoảng 42 triệu người tham gia BHYT, trong đó có 15,28 triệu người nghèo, 11,12 triệu người tự nguyện, 10,47 triệu người thuộc BHYT bắt buộc), đặc biệt là các đối tượng chính sách xã hội như hưu trí, mất sức, người có công với cách mạng, người nghèo... Quyền lợi của người tham gia BHYT được mở rộng, chi phí KCB ngày càng cao. Tuy nhiên, mức đóng BHYT thấp trong khi chi phí y tế ngày càng tăng cao. Tình trạng lựa chọn ngược trong BHYT tự nguyện xảy ra khá trầm trọng. Khả năng cân bằng Quỹ BHYT yếu. Những tồn tại này khiến khả năng chia sẻ nguy cơ của BHYT còn hạn chế, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và thúc đẩy XHH các hoạt động y tế. Cần phải nghiên cứu hình thức khoán quỹ, giao quỹ cho thích hợp, bảo đảm quyền lợi của tất cả các bên như người bệnh, cơ sở KCB, khả năng chi trả của quỹ BHYT. Tỷ lệ tham gia của đối tượng BHYT bắt buộc mới đạt trên 52%, BHYT tự nguyện còn nhiều hạn chế, chưa thu hút người dân tham gia.
- Các nguồn viện trợ quốc tế: Với điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, Việt Nam dự kiến sớm thoát khỏi tình trạng một nước nghèo trước năm 2010. Với xu thế này, hiện nay các nhà tài trợ cho y tế cũng giảm dần, chuyển từ viện trợ không hoàn lại sang cho vay, chuyển từ cho vay ưu đãi sang cho vay với lãi suất cao hơn... Vì vậy, việc tăng cường tính hiệu quả và tìm các nguồn tài chính bổ sung cho y tế là cần thiết.
5. Đổi mới công tác quản lý: Việc triển khai thực hiện chính sách tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP trong ngành Y tế còn chậm. Có nhiều nguyên nhân như một số chính sách còn chậm sửa đổi, bổ sung nên không phù hợp với cơ chế tự chủ tài chính như chính sách viện phí, cơ chế thanh toán của BHYT. Trình độ quản lý tài chính của một số cơ sở y tế còn chưa đáp ứng yêu cầu. Chưa có hướng dẫn và quy định cụ thể về tự chủ trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế nên hiện nay mới chủ yếu thực hiện quyền tự chủ về tài chính; chưa có hướng dẫn, quy định cụ thể về vay vốn, nộp thuế, phê duyệt các đề án liên doanh liên kết, tổ chức các hoạt động dịch vụ ngoài nhiệm vụ chuyên môn chính nên việc thực hiện còn khó khăn, vướng mắc. Một số cơ sở y tế có điều kiện nhưng chưa thể thực hiện tự chủ toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên do mức thu viện phí chưa được sửa đổi, bổ sung.
6. Tổ chức y tế địa phương chưa thật phù hợp: Cơ chế quản lý tài chính y tế ở các địa phương cũng như mô hình tổ chức còn những bất cập, chưa phù hợp với mô hình quản lý theo Ngành trên địa bàn lãnh thổ, cần sớm được sửa chữa, khắc phục.
Phần thứ II
NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NĂM 2008
I. Định hướng đổi mới cơ chế hoạt động của ngành Y tế
1. Quan điểm về phát triển:
Một thách thức lớn đối với ngành Y tế Việt Nam là kết hợp hài hòa giữa quan điểm thị trường và quan điểm xã hội để giảm thiểu những hạn chế của cách tiếp cận "Chính phủ giữ vai trò chủ đạo" trong khi không làm mất đi những lợi thế cạnh tranh trong chăm sóc sức khỏe vì mục đích phát triển.
Theo quan điểm thị trường, dịch vụ y tế được coi là một loại hàng hóa cần phải được quản lý, điều hành theo cơ chế thị trường như những loại hàng hóa khác. Nhưng theo quan điểm xã hội, dịch vụ y tế là loại "hàng hóa công", một loại dịch vụ xã hội đặc biệt, quyền cơ bản của con người không tách rời với phúc lợi xã hội.
Từ những quan điểm về phát triển theo cơ chế thị trường đơn thuần và quan điểm xã hội, quan điểm phát triển ngành Y tế trong quá trình đổi mới được xác định:
1. Ngành Y tế sẽ phát triển tốt hơn nếu có sự cạnh tranh trong thị trường khám chữa bệnh.
2. Kế hoạch, chiến lược cạnh tranh nên được thực hiện bởi các đơn vị độc lập để đạt được những lợi ích từ cạnh tranh đem lại.
3. Ngành Y tế sẽ phát triển tốt hơn nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên (Chính phủ, các đơn vị cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ).
4. Chính phủ cần đóng vai trò chính trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là y tế dự phòng và y tế cơ sở, như vậy sẽ có hiệu quả hơn và bảo đảm công bằng cho mọi người dân.
5. Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự phối hợp giữa các bên từ việc xây dựng chiến lược, kế hoạch và thực hiện kế hoạch và Chính phủ có thể điều tiết kế hoạch chung của quốc gia mà không có tổ chức phi chính phủ nào có thể làm tốt hơn.
2. Định hướng đổi mới:
2.1 Đổi mới về đầu tư và cơ cấu phân bổ ngân sách theo hướng tăng đầu tư Ngân sách nhà nước cho cơ sở y tế, y tế dự phòng, chương trình mục tiêu y tế quốc gia. Tăng cường xã hội hóa trong lĩnh vực khám bệnh. Theo định hướng này, tỷ lệ chi thường xuyên sẽ giảm trong cơ cấu cho đối với lĩnh vực khám chữa bệnh tuyến Trung ương, tuyến tỉnh để tăng đầu tư cho y tế dự phòng, y tế cơ sở và chương trình mục tiêu quốc gia.
2.2. Chuyển dần hình thức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho người cung cấp dịch vụ y tế sang người sử dụng dịch vụ. Ngân sách nhà nước bảo đảm chế độ, chính sách đối với các đối tượng do nhà nước bảo đảm nhằm nâng cao công bằng trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội khác...
2.3. Đổi mới Cơ chế hoạt động đảm bảo phù hợp với nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN: (i) Tăng cường giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, biên chế, hoạt động và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu; (ii) Bảo đảm điều kiện tăng thu nhập cho viên chức sự nghiệp, người giỏi được trả lương thỏa đáng nhằm khuyến khích tài năng; (iii) Nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, chất lượng dịch vụ và tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc; (iv) Công khai, minh bạch các khoản thu, chi trong đơn vị.
2.4. Tăng cường xã hội hóa, đẩy nhanh tiến độ phát triển bệnh viện tư nhân, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong khám chữa bệnh cho nhân dân.
II. Các nhiệm vụ trọng tâm và định hướng bố trí ngân sách
Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010, Quyết định 153/2006/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam và các mục tiêu y tế mà Nghị quyết Đại hội Đảng X đã đề ra, cụ thể:
1. Về đầu tư phát triển: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 06-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, phấn đầu cuối năm 2008 có trên 60% số xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Tập trung các nguồn lực để đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị cho hệ thống y tế, trong đó trọng tâm là:
- Ưu tiên phân bổ ngân sách đầu tư phát triển để thực hiện các đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như: Nâng cấp các bệnh viện tuyến huyện theo Quyết định 225/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng; Đề án phát triển Trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện tại Quyết định số 1402/QĐ-TTg ngày 15/10/2007; Đề án đầu tư xây dựng trạm y tế thuộc vùng khó khăn giai đoạn 2008-2010 tại Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 và phát triển bệnh viện tỉnh, vùng. Đầu tư phát triển thêm 41.000 giường bệnh để đạt mục tiêu 20 giường bệnh/vạn dân vào năm 2010 như Nghị quyết được Quốc hội thông qua. Đồng thời tạo bứt phá để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và điều kiện phục vụ người bệnh theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị trong Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/3005.
- Triển khai xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các bệnh viện đa khoa vùng tại Sơn La, Thái Nguyên, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Bình Định, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Kiên Giang, Tiền Giang và một số bệnh viện đa khoa tỉnh; phát triển kỹ thuật cao, hoàn thiện các trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Huế và Đà Nẵng theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 153 nhằm bảo đảm khám chữa bệnh cho nhân dân theo địa bàn.
- Xây dựng các trung tâm xét nghiệm, phòng thí nghiệm, trung tâm kiểm tra chất lượng dược phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm đủ năng lực và điều kiện hoạt động ở các tuyến theo Quyết định 154/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Quản lý nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm giai đoạn 2006-2015". Tiếp tục triển khai xây dựng phòng xét nghiệm an toàn sinh học tại Viện Pasteur TP.Hồ Chí Minh.
- Tập trung đầu tư nâng cấp để hoàn thiện và củng cố hệ thống y tế dự phòng tuyến tỉnh, các trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện mới được chia tách theo Nghị định 171/2004/NĐ-CP và Nghị định 172/2004/NĐ-CP của Chính phủ. Tăng mạnh tỷ lệ đầu tư ngân sách cho y tế dự phòng. Có kế hoạch phân bổ ngân sách theo diễn biến dịch bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu về tính cấp thiết, kịp thời của công tác phòng, chống dịch bệnh và kiện toàn hệ thống y tế dự phòng.
2. Về phòng chống dịch bệnh:
Tăng cường quản lý, chỉ đạo trong công tác phòng chống dịch bệnh; Tăng cường hệ thống thông tin, báo cáo các bệnh truyền nhiễm gây dịch; Xây dựng hệ thống cảnh báo dịch sớm và đáp ứng nhanh, nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và xử lý ổ dịch cho cán bộ y tế dự phòng các tuyến, tăng cường giám sát, phát hiện sớm các trường hợp mắc cúm A (H5N1), tả, sốt xuất huyết, viêm não vi rút,... xử lý kịp thời các trường hợp mắc, hạn chế thấp nhất tỷ lệ tử vong, không để dịch lớn xảy ra. Thực hiện công tác kiểm dịch y tế quốc tế và quản lý hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế. Triển khai nhiệm vụ sức khỏe môi trường, sức khỏe cộng đồng, y tế trường học; Đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe người lao động, phát hiện và giảm tỷ lệ mắc các bệnh nghề nghiệp, phòng chống tai nạn thương tích. Một số các chỉ tiêu cơ bản năm 2008 như sau:
1) Dịch viêm phổi do vi rút cúm A (H5N1)
- Khống chế không để xảy ra đại dịch.
- 100% các ca bệnh được phát hiện sớm, quản lý và xử lý kịp thời.
2) Dịch SARS
- Khống chế không để dịch quay trở lại.
3) Dịch Tả
- Khống chế không để dịch xảy ra;
- Hạn chế tỷ lệ mắc < 1/100.000 dân;
- Không để xảy ra trường hợp tử vong.
4) Bệnh Dịch hạch
- Duy trì bảo vệ thành quả của các năm 2003-2007 (không có trường hợp mắc bệnh), không để dịch xảy ra.
- Tiến tới thanh toán dịch hạch trên người vào năm 2010.
5) Bệnh Thương hàn
- Khống chế tỷ lệ mắc <9/100.000 dân.
- Khống chế tỷ lệ tử vong < 0,01/100.000 dân
6) Bệnh Viêm não vi rút
- Khống chế tỷ lệ mắc viêm não vi rút <2,0/100.000 dân.
- Khống chế tỷ lệ tử vong <0,1/100.000 dân.
7) Bệnh Viêm màng não do não mô cầu
- Khống chế tỷ lệ mắc <1/100.000 dân.
- Khống chế tỷ lệ tử vong <0,02/100.000 dân.
8) Bệnh Sốt xuất huyết
- Khống chế tỷ lệ mắc <100/100.000 dân.
- Khống chế tỷ lệ tử vong <0,1/100.000 dân.
- Hạn chế, không để dịch lớn xảy ra. Nếu xảy dịch, tiến hành dập dịch kịp thời, không để dịch lan rộng, kéo dài.
9) Bệnh Sốt rét
- Không để dịch lớn xảy ra.
- Dân số được bảo vệ: 10,44 triệu người
- Bệnh nhân sốt rét được điều trị: 791.100 lượt bệnh nhân.
- Số lam máu phát hiện ký sinh trùng: 2.322.500 lam máu.
- Mắc sốt rét: <100/100.000 dân.
- Chết do sốt rét: <0,02/100.000 dân.
10) Bệnh Lao
- Số bệnh nhân được phát hiện các thể: 96.957 người.
- Số bệnh nhân được phát hiện AFB (+) mới: 57,077/100.000 dân
- Tỷ lệ bệnh nhân lao AFB (+) được điều trị khỏi: 90%.
11) Bệnh Phong
- Tỷ lệ lưu hành bệnh phong: 0,2/10.000 dân.
- Tỷ lệ phát hiện bệnh phong: 0,99/100.000 dân.
- Tỷ lệ tàn tật độ II ở bệnh nhân mới: 12,5%.
- Khám phát hiện bệnh phong: 11.244.539 người.
- Bệnh nhân mới được điều trị: 615 người.
- Bệnh nhân điều trị bằng đa hóa trị liệu: 1.047 người.
- Bệnh nhân tàn tật được chăm sóc: 12.802 người.
12. Suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cân nặng theo tuổi: theo Quyết định được giao là 22,85%. Tuy nhiên so với kế hoạch đã đạt được năm 2007, tỷ lệ này phấn đấu đến cuối năm 2008 đạt mức chỉ tiêu dưới 20%.
- Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em chiều cao theo tuổi: 30,92%.
13) Phòng chống HIV/AIDS
- Tỷ lệ số đơn vị máu sàng lọc: 100%.
- Số mẫu máu giám sát HIV: 272.000 mẫu.
- Số mẫu máu giám sát STI: 30.000 mẫu.
- Tỷ lệ người nhiễm HIV được Quản lý-Chăm sóc-Theo dõi: 72%.
- Tỷ lệ cán bộ y tế bị phơi nhiễm được điều trị: 100%.
- Tỷ lệ phụ nữ có thai phát hiện HIV (+) được điều trị: 100%.
14) Tiêm chủng mở rộng
- Không có trường hợp vi rút bại liệt hoang dại
- Huyện đạt tiêu chuẩn loại trừ uốn ván sơ sinh: 100%.
- Tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin cho trẻ em dưới 1 tuổi: >95%
- Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai: > 80%
- Tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B (đủ 3 mũi): >90%
- Tỷ lệ tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản B: > 90%.
15) Bảo vệ sức khỏe tâm thân cộng đồng
- Số xã triển khai: 6.470 xã
- Số xã duy trì triển khai tâm thần phân liệt: 5.305 xã
- Số xã duy trì triển khai quản lý BN động kinh, trầm cảm: 45 xã
- Số xã triển khai tâm thần phân liệt mới: 997 xã
- Số bệnh nhân phát hiện và quản lý: 113.040 bệnh nhân
- Số bệnh nhân duy trì điều trị: 95.190 bệnh nhân
- Số bệnh nhân mới điều trị năm 2008: 16.881 bệnh nhân
- Bệnh nhân ổn định: 78.409 bệnh nhân
3. Về khám chữa bệnh và phục hồi chức năng
- Hoàn thiện Quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh. Tiếp tục nghiên cứu và triển khai các giải pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh ở các tuyến nhằm từng bước giải quyết có hiệu quả tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến TW và các thành phố lớn như: Tăng cường công tác CSSK ban đầu ở tuyến xã, đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, chuyển giao kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cho tuyến tỉnh, huyện; cải thiện chất lượng điều trị, giảm số ngày nằm viện ở các bệnh viện tuyến trên; khuyến khích việc người dân khám chữa bệnh đúng tuyến chuyên môn; tận dụng điều kiện cơ sở vật chất hiện có ở các bệnh viện để tăng số giường bệnh; xây dựng thêm các bệnh viện mới; phát triển các bệnh viện tư nhân... Tổng số giường bệnh năm 2008 do Trung ương quản lý là 21.280 giường, trong đó Bộ Y tế trực tiếp quản lý 16.800 giường, bao gồm cả 450 giường điều trị ban ngày.
- Đổi mới cơ chế tài chính y tế theo hướng công bằng-hiệu quả và phát triển, nghiên cứu để thực hiện cơ chế phân bổ ngân sách mới cho các bệnh viện, coi dịch vụ y tế là dịch vụ công, các bệnh viện là đơn vị cung ứng dịch vụ cho xã hội; đồng thời với việc hoàn thiện chính sách thu viện phí mới để trình Chính phủ nhằm minh bạch, công khai các khoản thu-chi, các nội dung thu phí. Chỉ đạo thực hiện tốt Nghị định 43 về tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập; đánh giá và đẩy mạnh việc triển khai công tác XHH y tế theo Nghị quyết 05 của Chính phủ, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào các dịch vụ y tế. Các tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế phát triển đều có bệnh viện ngoài công lập. Tiếp tục tìm hiểu kỹ cơ chế cổ phần hóa bệnh viện và bệnh viện cổ phần, trên cơ sở đó có bước đi và lộ trình thích hợp.
- Xây dựng và hoàn thiện tiêu chuẩn đánh giá chất lượng bệnh viện. Hoàn thiện xây dựng và triển khai thực hiện đề án: "xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa, bảo đảm và kiểm tra chất lượng cận lâm sàng".
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chính sách khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, chính sách mua thẻ BHYT cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Bước đầu thực hiện việc hỗ trợ người cận nghèo, người có thu nhập thấp mua thẻ BHYT.
- Kết hợp y dược học cổ truyền với y học hiện đại. Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền đến năm 2010.
4. Công tác Dược:
Đảm bảo đủ thuốc thiết yếu cho điều trị bệnh theo yêu cầu của nhân dân. Triển khai các biện pháp hữu hiệu để bình ổn giá thuốc. Tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo chất lượng thuốc. Đẩy mạnh triển khai các giải pháp để sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Hoàn thiện hệ thống cung ứng, các chỉ tiêu về sản xuất, kinh doanh, phát triển công nghiệp dược, xây dựng và áp dụng thực hiện các chỉ tiêu: GMP, GLP, GSP, GDP, GPP nhằm đáp ứng với yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế. Xây dựng Quy hoạch phát triển công nghiệp dược. Chỉ đạo các địa phương, đơn vị thực hiện tốt việc đấu thầu mua thuốc theo quy định góp phần bình ổn giá thuốc.
5. Công tác tổ chức cán bộ:
Triển khai thực hiện Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế; hoàn thành việc sáp nhập một số bộ phận của Ủy ban Dân số-Gia đình và Trẻ em về Bộ Y tế; ổn định tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Bộ Y tế theo cơ cấu mới, tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ được giao (cả TW và địa phương). Sớm trình duyệt mô hình tổ chức y tế địa phương theo hướng quản lý theo ngành trên địa bàn lãnh thổ. Tiếp tục đề xuất các giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực y tế trong thời gian tới nhằm bảo đảm số lượng, cơ cấu lao động cho các cơ sở y tế và chuyển dần việc thường trực chuyên môn y tế 24/24h sang làm việc theo ca kíp vào năm 2010. Nghiên cứu các phương án để đề nghị với Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫn, bổ sung số lượng cán bộ cho các Sở Y tế và y tế các quận/huyện để hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn về: thanh tra y tế, quản lý công tác y dược học cổ truyền...
6. Đào tạo, phát triển nhân lực y tế và khoa học công nghệ:
Trong năm 2008, triển khai dự án đào tạo cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ cán bộ y tế cho các vùng khó khăn, thực hiện các hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế, nâng cấp các cơ sở đào tạo y dược, tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo, phấn đấu đạt 7 bác sỹ/10.000 dân vào năm 2010. Xây dựng dự án đào tạo cán bộ y tế chuyên sâu và đào tạo nhân tài. Xây dựng Quy hoạch hệ thống các cơ sở đào tạo cán bộ y tế.
Triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu mới trong các lĩnh vực y tế dự phòng, y học cơ sở, lâm sàng, dược. Triển khai các nghiên cứu hỗ trợ công tác quản lý nhà nước của ngành. Xây dựng đề án: "ứng dụng công nghệ sinh học trong ngành Y tế".
7. Công tác pháp chế, thi đua-khen thưởng, truyền thông giáo dục sức khỏe và quản lý báo chí:
Xây dựng và hoàn thiện theo kế hoạch Dự án Luật Bảo hiểm y tế, Dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Dự án Luật An toàn thực phẩm, Luật Dân số và Dự án Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá. Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Bảo hiểm y tế, Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống các bệnh truyền nhiễm và các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Hoàn thiện hồ sơ và đề nghị xét phong tặng danh hiệu "Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú" vào dịp kỷ niệm 27/2/2008; tiếp tục thực hiện việc xét khen thưởng thường xuyên, đột xuất (Huy chương, Huân chương, Cờ Thi đua và Bằng khen các loại, Kỷ niệm chương "Vì sức khỏe nhân dân") cho các đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Tuyên truyền về các thành tựu của ngành, các gương người tốt, việc tốt trong ngành Y tế, tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh; biên soạn sách về chân dung thầy thuốc, tổ chức cuộc thi sáng tác Logo của ngành Y tế, xây dựng một số phim và phóng sự về hoạt động của ngành Y tế.
8. Đẩy mạnh công tác thanh tra y tế:
Tiếp tục chỉ đạo các Sở Y tế triển khai thanh tra hành nghề y tế tư nhân trên địa bàn, thanh tra về vệ sinh an toàn thực phẩm, về quản lý sử dụng vắc xin, sinh phẩm, công tác quản lý và sử dụng vốn vay, vốn ngân sách của các dự án theo Công điện 496/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, việc triển khai Luật Phòng chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo hướng dẫn và chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ.
9. Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, Dân số-Kế hoạch hóa gia đình:
Tiếp tục triển khai đồng bộ, thường xuyên các hoạt động tuyên truyền, vận động, giáo dục và tư vấn, tập trung ưu tiên cho 23 tỉnh có mức sinh cao. Tăng cường chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ KHHGĐ tại các xã có mức sinh cao, mức sinh chưa ổn định, có đông đồng bào dân tộc thiểu số và công giáo, các cặp vợ chồng đã có 2 con trở lên nhưng chưa thực hiện các BPTT hiện đại và các xã vùng khó khăn theo QĐ 130/2007/QĐ-TTg nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, đảm bảo các tiêu chuẩn quốc gia và an toàn về dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, mở rộng tiếp thị xã hội, đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời biện pháp tránh thai có chất lượng. Thí điểm và nhân rộng các mô hình, giải pháp can thiệp nâng cao chất lượng dân số. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách, luật pháp, ổn định bộ máy làm công tác dân số ở cơ sở, đảm bảo chính sách đối với cán bộ dân số ở cơ sở, khuyến khích thực hiện tốt chính sách dân số.
Phấn đấu mức giảm sinh năm 2008 là 0,3o/oo và tỷ lệ phát triển dân số là 1,25%, tập trung mọi nỗ lực để đạt tỷ lệ phát triển dân số là 1,14% vào năm 2010 (theo nghị quyết Đại hội Đảng X đề ra). Số người mới sử dụng các biện pháp tránh thai năm 2008 là 4.608.500 người, trong đó: triệt sản 35.000 người; đặt dụng cụ tử cung 1.507.000 người; cấy thuốc tránh thai là 16.000 người; sử dụng thuốc tiêm tránh thai là 250.000 người; sử dụng thuốc viên uống tránh thai là 1.400.000 người.
III. Dự toán chi toàn ngành năm 2008
Bộ Y tế lập và trình Chính phủ là 30.554 tỷ đồng, bằng 7,7% tổng chi ngân sách nhà nước. Chính phủ trình Quốc hội là 23.143 tỷ đồng, bằng 5,82% tổng chi ngân sách nhà nước (so với dự toán lập đạt 75%). Nếu tính cả 5.000 tỷ đồng đang đề nghị phát hành trái phiếu là 28.143 tỷ đồng, đạt 7,08% tổng chi NSNN.
1. Chi đầu tư phát triển:
a) Bộ Y tế lập 9.180 tỷ đồng
b) Chính phủ trình Quốc hội khoảng 6.500 tỷ đồng, trong đó có:
- Bổ sung có mục tiêu cho các địa phương là 900 tỷ đồng để nâng cấp bệnh viện tỉnh, bệnh viện huyện và bệnh viện đa khoa khu vực;
- 170 tỷ đồng vốn chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ một số bệnh viện lao, phong, tâm thần, trung tâm phòng chống HIV/AIDS, ung thư...;
- Ngân sách địa phương là 3.600 tỷ đồng
Như vậy, nếu được Quốc hội nhất trí phát hành khoảng 4.000-5.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ thì về cơ bản đáp ứng được nhu cầu chi đầu tư phát triển năm 2008.
2. Chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước:
a) Bộ Y tế lập 21.374 tỷ đồng
b) Chính phủ trình Quốc hội: 16.643 tỷ đồng; trong đó:
- Ngân sách địa phương 12.648 tỷ đồng, tăng so với dự toán 2007 là 1.130 tỷ đồng, chưa đáp ứng tiền lương tăng thêm do thực hiện lộ trình cải cách tiền lương và tăng chi do tăng biên chế theo định mức lao động mới.
- Ngân sách trung ương 3.995 tỷ đồng, trong đó:
+ Bộ Y tế 1.181 tỷ đồng
+ Chương trình phòng chống bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS là 990 tỷ đồng;
+ Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm 110 tỷ đồng
+ Chi khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi: Bộ Y tế đề nghị mức chi bằng 3% lương tối thiểu (như các đối tượng chính sách xã hội khác) là 194.400 đồng/người nhưng hiện nay mới cân đối 130.000 đồng/người.
+ Chi hỗ trợ người cận nghèo mua thẻ BHYT tự nguyện 700 tỷ đồng.
3. Dự toán chi từ nguồn thu khác: 9.475,5 tỷ đồng, tăng 11% so với dự toán 2007, trong đó viện phí và BHYT là 9.115,5 tỷ đồng, các loại phí, lệ phí khác là 360 tỷ đồng.
Phần thứ ba
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN
1. Nâng cao năng lực quản lý, đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới cơ chế hoạt động bảo đảm phù hợp với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa:
Đẩy mạnh cải cách hành chính trong ngành Y tế; hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Khẩn trương xây dựng Luật Khám, chữa bệnh để bảo đảm quyền lợi cho người bệnh, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của người bệnh và của cán bộ y tế trong lúc làm nhiệm vụ; xây dựng Luật Bảo hiểm y tế; thực hiện chế độ bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp đối với cán bộ y tế.
Thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu trong lĩnh vực y tế. Riêng đối với các cơ sở khám, chữa bệnh công lập, việc thực hiện tự chủ về tài chính cần được tiến hành từng bước, song song với việc hỗ trợ người nghèo, các đối tượng chính sách và đẩy mạnh tiến trình mở rộng bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân.
Nâng cao năng lực lập kế hoạch và quản lý tài chính trong các lĩnh vực hoạt động của ngành Y tế. Thường xuyên theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả hoạt động xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch. Phân cấp quản lý rõ ràng cho các tuyến y tế, các địa phương. Tăng cường quản lý chất lượng dịch vụ y tế, quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính của các cơ sở y tế công lập nhằm bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Kiện toàn hệ thống thanh tra y tế, nâng cao hiệu lực hoạt động thanh tra, kiểm tra để thực hiện tốt quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định về Thanh tra y tế. Tăng cường đội ngũ cán bộ thanh tra y tế, bảo đảm tăng cả số lượng và chất lượng cán bộ thanh tra y tế.
Chuẩn bị các điều kiện cần thiết về các lĩnh vực quản lý, sản xuất và cung cấp dịch vụ y tế nhằm từng bước đáp ứng với các quy định của WTO và các điều ước quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Đổi mới cơ chế tài chính:
Tăng chi ngân sách đầu tư cho y tế, gồm các nguồn: NSNN, ODA để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân, phấn đấu đến năm 2010 đạt tương đương 9,2% so với tổng chi ngân sách nhà nước và bổ sung từ 4.000-5.000 tỷ đồng mỗi năm (2008, 2009 và 2010) để giải quyết nhu cầu cấp bách về nâng cấp bệnh viện đạt tiêu chuẩn quy định. Đồng thời cơ cấu lại nguồn lực phân bổ theo hướng dành ưu tiên ngân sách nhà nước tăng chi thường xuyên để hỗ trợ: (i) Mua bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách; (ii) cho hoạt động y tế cơ sở; (iii) y tế dự phòng và các chương trình mục tiêu quốc gia (bao gồm Chương trình Phòng chống bệnh không lây nhiễm); (iv) hoạt động của các cơ sở điều trị lao, phong, tâm thần... và Chi đầu tư phát triển cho nâng cấp cơ sở hạ tầng tuyến huyện, xã; tăng thêm giường bệnh (theo Nghị quyết của Quốc hội) và hỗ trợ cho bệnh viện vùng khó khăn.
Chuyển dần hình thức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho người cung cấp dịch vụ y tế sang người sử dụng dịch vụ. Ngân sách nhà nước bảo đảm chế độ, chính sách đối với các đối tượng do nhà nước bảo đảm nhằm nâng cao công bằng trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội khác...
Tiếp tục xây dựng để hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về y tế, đặc biệt là cơ chế tài chính để phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như:
- Chỉ đạo các Sở Y tế, các đơn vị trực thuộc triển khai tốt việc thực hiện Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT về bổ sung khung giá viện phí; tập trung và quản lý chặt chẽ nguồn thu viện phí; Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách thu viện phí mới để trình Chính phủ phê duyệt theo hướng minh bạch, công khai các khoản thu, chi, nội dung thu của viện phí để người dân biết, thực hiện.
- Tiếp tục thực hiện sửa đổi, bổ sung Nghị định 63/2005/NĐ-CP, hoàn thiện dự án Luật BHYT để trình Chính phủ, Quốc hội. Trước mắt giải quyết các tồn tại trong thanh toán bảo hiểm y tế, xây dựng cơ chế cụ thể để hỗ trợ người cận nghèo mua thẻ BHYT, phát triển BHYT dựa vào cộng đồng, tăng tỷ trọng người có thẻ BHYT để quỹ bảo hiểm y tế trở thành nguồn tài chính chủ yếu cho khám chữa bệnh, giảm dần nguồn tài chính từ viện phí.
- Rà soát các chế độ chính sách về tiền lương, thu nhập của cán bộ y tế, xây dựng chính sách thu hút cán bộ y tế về công tác tại y tế cơ sở, tại vùng khó khăn.
Tiếp tục thực hiện việc công khai, minh bạch trong việc lập, phân bổ, giao dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước; xây dựng hệ thống định mức để kiểm soát chỉ tiêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
3. Tăng cường đầu tư:
Đổi mới về đầu tư và cơ cấu phân bổ ngân sách theo hướng đầu tư Ngân sách nhà nước cho y tế cơ sở, y tế dự phòng, chương trình mục tiêu y tế quốc gia. Tăng cường xã hội hóa trong lĩnh vực khám chữa bệnh.
Theo định hướng này, tỷ lệ chi thường xuyên sẽ giảm trong cơ cấu chi đối với lĩnh vực khám chữa bệnh tuyến Trung ương, tuyến tỉnh để tăng đầu tư cho y tế dự phòng, y tế cơ sở và chương trình mục tiêu quốc gia.
Xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện tốt Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg; Quyết định số 154/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ.
Ưu tiên phân bổ ngân sách đầu tư phát triển để thực hiện các đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như: Nâng cấp bệnh viện huyện (QĐ 225/QĐ-TTg ngày 15/9/2005); nâng cao năng lực trạm y tế xã (QĐ 950/QĐ-TTg ngày 27/7/2007); hỗ trợ phát triển TTYT dự phòng huyện (QĐ 1402/QĐ-TTg ngày 15/10/2007) và phát triển bệnh viện tỉnh, vùng. Đầu tư từ các nguồn để phát triển thêm 41.000 giường bệnh (kể cả giường bệnh viện tư) để đạt mục tiêu 20,5 giường bệnh/vạn dân vào năm 2010 như Nghị quyết được Quốc hội thông qua. Đồng thời tạo bước bứt phá để nâng cao chất lượng dịch vụ y tê và điều kiện phục vụ người bệnh theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005, cụ thể:
- Đối với bệnh viện tuyến Trung ương: Đầu tư theo cơ chế một phần nguồn NSNN (đối với các bệnh viện theo cơ chế tự chủ), phần chủ yếu vay vốn Ngân hàng phát triển, liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân và các nguồn huy động khác. Trong 2 năm tới, hàng loạt các công trình bệnh viện lớn của Trung ương sẽ được hoàn thành và đưa vào sử dụng bằng nguồn vốn xã hội hóa kết hợp với nguồn vốn ngân sách nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và góp phần giảm thiểu tình trạng quá tải của các bệnh viện.
- Đối với bệnh viện tuyến tỉnh: Kết hợp đầu tư thông qua nguồn NSNN, trái phiếu Chính phủ, vay vốn Ngân hàng phát triển và nguồn vốn ODA, liên doanh, liên kết.
- Đối với bệnh viện tuyến huyện: Chủ yếu đầu tư bằng Ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phue và nguồn vốn ODA.
- Đối với tuyến xã: Chủ yếu đầu tư bằng nguồn ngân sách nhà nước.
Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư phát triển, rà soát để điều chỉnh giữa các dự án theo hướng nâng cao hiệu quả, chống lãng phí, thất thoát, dàn trải, chỉ bố trí vốn cho các dự án thực sự cần thiết và có hiệu quả; giải quyết tốt, triệt để các vướng mắc trong khâu lập phê duyệt thiết kế-tổng dự toán, đấu thầu, đền bù giải phóng mặt bằng.
Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các Dự án ODA đã được phê duyệt. Tìm các nguồn ODA và khẩn trương xây dựng, hoàn thiện các dự án ODA hỗ trợ phát triển y tế theo vùng (như vùng Bắc Trung Bộ, miền núi phía Bắc, Nam Trung Bộ...) để giảm bớt gánh nặng đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Phối hợp với UBND các tỉnh xây dựng và triển khai đồng bộ các giải pháp về đầu tư nâng cấp hệ thống y tế, đào tạo cán bộ, xây dựng các chính sách đãi ngộ hợp lý cho cán bộ y tế tuyến dưới để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tuyến dưới, giảm quá tải cho các cơ sở y tế tuyến TW và các thành phố lớn.
4. Tăng cường xã hội hóa công tác y tế, đẩy nhanh tiến độ phát triển bệnh viện tư nhân, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong khám chữa bệnh cho nhân dân.
Tiếp tục triển khai thực hiện đề án phát triển xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân nhằm thực hiện tốt Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tạo điều kiện để mọi người dân được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở mức độ ngày càng cao.
Huy động các nguồn lực cho phát triển ngành Y tế. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của lãnh đạo các cấp chính quyền, các Ban, ngành và đoàn thể về xã hội hóa để tăng cường chỉ đạo và phối hợp triển khai thực hiện các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Vận động mọi người tham gia chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân. Không ngừng phát triển hệ thống y tế (công lập và tư nhân) nhằm tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được thụ hưởng đầy đủ những dịch vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân với chất lượng ngày càng cao.
Tăng nhanh tỷ trọng các nguồn tài chính công cho y tê (bao gồm ngân sách Nhà nước, bảo hiểm y tế), chuyển dần chi thường xuyên ngân sách Nhà nước từ hình thức cấp cho các cơ sở khám, chữa bệnh sang hỗ trợ trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ. Tốc độ tăng chi ngân sách Nhà nước cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi ngân sách Nhà nước hàng năm; trong đó ưu tiên đầu tư cho y tế cơ sở, cho các vùng nghèo, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, y tế dự phòng và chú trọng phát triển y tế kỹ thuật cao.
Đẩy nhanh tiến độ phát triển và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế, củng cố và mở rộng bảo hiểm y tế bắt buộc theo hướng đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm y tế, đáp ứng với nhu cầu của nhân dân. Phát triển mạnh bảo hiểm y tế cộng đồng dựa vào sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm, có sự trợ giúp của Nhà nước và các nguồn tài trợ khác. Khuyến khích phát triển các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện.
Trên cơ sở Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân, Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích phát triển các cơ sở y tế tư nhân. Các cá nhân hoặc tổ chức tư nhân được phép đăng ký thành lập cơ sở hành nghề y dược, đặc biệt là các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tư nhân tại các thành phố, thị xã và các phòng khám đa khoa ở những nơi tập trung đông dân cư và các khu vực xa cơ sở y tế công lập. Đến 2010, các tỉnh, thành phố lớn đều có bệnh viện tư nhân. Khuyến khích các phòng mạch tư hiện có nâng cấp thành các phòng khám đa khoa hoặc chuyen khoa, bảo đảm chất lượng chuyên môn theo quy định của Bộ Y tế.
5. Tăng cường công tác quản lý, sản xuất và lưu thông thuốc, trang thiết bị và đầu tư xây dựng cơ bản
Đảm bảo sản xuất và cung ứng thuốc trong nước có chất lượng nhằm đáp ứng với nhu cầu phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân. Trước hết phải đầu tư chiều sâu, nâng cấp các cơ sở sản xuất thuốc trong nước, tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp cận với công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới.
Nghiên cứu và sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế theo hướng hiện đại hóa, sử dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, đáp ứng đủ nhu cầu về sử dụng vắc xin và sinh phẩm y tế thiết yếu có chất lượng cho nhân dân. Đảm bảo sản xuất để cung cấp đủ 10 loại vắc xin cho Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia, trong đó một số loại có khả năng xuất khẩu; đồng thời cung ứng các loại vắc xin, sinh phẩm khác cho thị trường trong nước.
Đa dạng hóa các loại hình sản xuất và kinh doanh vắc xin, sinh phẩm y tế, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước là nòng cốt. Khuyến khích tư nhân và nước ngoài đầu tư cho lĩnh vực này.
Đẩy mạnh đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị để các cơ sở sản xuất thuốc, vắc xin và sinh phẩm y tế của Việt Nam trong giai đoạn tới đều phải đạt tiêu chuẩn về thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành kiểm nghiệm tốt (GLP) và thực hành bảo quản tốt (GSP) của Tổ chức Y tế thế giới.
Tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến của giá cả thị trường thuốc; thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp để kiểm soát giá thuốc. Phổ biến rộng rãi các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế theo thỏa thuận AFTA, WTO đến các doanh nghiệp Dược, trang thiết bị y tế nhằm thực hiện tốt việc hội nhập./.
(Nguồn: Báo cáo tổng kết của Bộ Y tế)
 
In bài
Các tin khác
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008

Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2008

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch thương mại-dịch vụ tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 9 và tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2008
Báo cáo tình hình điều hành bình ổn thị trường trong nước và xuất nhập khẩu tháng 8 năm 2008
Báo cáo về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và tỷ giá tháng 8/2008
Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát 8 tháng đầu năm
Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội tháng 8 năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2008
Báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo đầu tư nước ngoài tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2008
Báo cáo kết quả sản xuất-kinh doanh, dịch vụ và đầu tư tháng 7 và tình hình KT-XH 7 tháng năm 2008
Tình hình điều hành kinh tế vĩ mô tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2008, các giải pháp chủ yếu trong 6 tháng cuối năm
Tình hình kinh tế-xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2008 và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP của Chính phủ
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2008
Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và triển khai kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2008
Tổng hợp tình hình Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008 của Văn phòng Chính phủ
Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007 và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu năm 2008 của ngành xây dựng
Báo cáo Tổng kết công tác năm 2007, triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2008 của Bộ Giao thông vận tải
Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện nhiệm vụ KT-XH, an ninh, quốc phòng năm 2007 và kế hoạch năm 2008 của Thành phố Hà Nội
Kết quả năm 2007 và kế hoạch phát triển công nghiệp, thương mại năm 2008
Báo cáo tổng kết năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Báo cáo triển khai kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2008
Kế hoạch phát triển sự nghiệp Y tế năm 2008
Báo cáo tổng kết công tác thông tin và truyền thông năm 2007 và Chương trình công tác năm 2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2008
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.