Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2006


Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm 2006:
Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm 2006
06/09/2010 17:35:00

 

TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI 9 THÁNG NĂM 2006

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm 2006 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,32%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,85%; khu vực dịch vụ tăng 8,03%. Trong 7,84% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,65 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,95 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,24 điểm phần trăm.

Khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng năm nay tăng 3,32%, thấp hơn mức tăng 4,4% của 9 tháng năm 2005, chủ yếu do tốc độ tăng của ngành nông nghiệp và thuỷ sản chậm lại vì ảnh hưỏng của thời tiết bất thường và dịch bệnh trong thời gian qua, trong đó nông nghiệp tăng 2,55%; thuỷ sản tăng 8,37%, thấp hơn mức tăng tương ứng 3,73% và 9,41% của 9 tháng năm 2005. Khu vực công nghiệp và xây dựng có mức tăng thấp hơn 0,13 điểm phần trăm chủ yếu do mức tăng ngành xây dựng 9 tháng năm nay đạt thấp hơn 1,11 điểm phần trăm so với mức tăng cùng kỳ năm trước.

Khu vực dịch vụ 9 tháng năm 2006 tăng 8,03%, trong đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn vẫn duy trì được mức độ tăng cao hơn mức độ tăng cùng kỳ năm 2005 như thương nghiệp tăng 8,31%; vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch tăng 10,7%; quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng tăng 7,38%; phục vụ cá nhân và cộng đồng tăng 6,89%... Riêng ngành khách sạn nhà hàng tăng chậm lại ở mức 11,1%, thấp hơn mức 16,3% của 9 tháng 2005; tài chính ngân hàng, bảo hiểm tăng 8,34% (9 tháng 2005 tăng 8,98%).

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản. Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 41,11% (9 tháng 2005) lên 41,5% trong 9 tháng năm nay; khu vực dịch vụ tăng từ 38,14% lên 38,42%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 20,74% xuống còn 20,08%.

Tổng thu ngân sách Nhà nước 9 tháng năm 2006 ước tính tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước và đạt 73,8% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa đạt 69,9%; thu từ dầu thô đạt 82,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 71,8% (thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 88%; thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu đạt 71,9%); thu viện trợ đạt 88%. Một số khoản thu lớn trong thu nội địa đạt khá là thu từ kinh tế Nhà nước đạt 71,9%; thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước đạt 76,9%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 75,1%; thu xổ số kiến thiết 82,3%; các loại phí, lệ phí 90,1%. Riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) mới đạt 57,1%; các khoản thu về nhà đất 65,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 9 tháng ước tính tăng 20,7% so với cùng kỳ năm trước và đạt 72,1% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 69,2%, riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 68,7%; chi trả nợ và viện trợ đạt 78,3%; chi thường xuyên đạt 77,3%; chi cải cách tiền lương đạt 55,5%. Trong chi thường xuyên, những khoản chi lớn nhìn chung đạt khá như chi sự nghiệp kinh tế đạt 80,3%; chi quản lý hành chính đạt 77,3%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 76,4%; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề đạt 76%; chi y tế đạt 76,5%. Bội chi ngân sách Nhà nước 9 tháng năm 2006 bằng 75,3% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó 73,7% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 26,3% từ nguồn vay nước ngoài.

 

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản  9 tháng theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 130,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông nghiệp đạt 95,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,1%; lâm nghiệp 4,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1%; thuỷ sản 29,6 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6%.

Ước tính cả năm 2006, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 1994 đạt 190,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2005, trong đó nông nghiệp đạt 142,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7%; lâm nghiệp 6,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2%; thuỷ sản 42 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5%. Kết quả sản xuất từng ngành trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản như sau:

a. Nông nghiệp

Trong trồng trọt, diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 7346,9 nghìn ha, tăng 17,7 nghìn ha so với năm trước và bằng 100,2%; lúa đông xuân đạt 2995,6 nghìn ha, tăng 53,5 nghìn ha và bằng 101,8%; lúa hè thu 2352,5 nghìn ha, tăng 3,2 nghìn ha, xấp xỉ năm 2005. Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 49,3 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha so với năm trước do vụ mùa ước tính đạt năng suất khá với 43,2 tạ/ha, tăng 3,7 tạ/ha; năng suất lúa đông xuân và hè thu giảm tương ứng 0,2 tạ/ha và 1,8 tạ/ha. Sản lượng lúa cả năm ước tính đạt 36,2 triệu tấn, tăng 40,4 vạn tấn so với năm 2005 và bằng 101,1%, Nếu tính thêm 3,7 triệu tấn ngô và lương thực có hạt khác thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2006 đạt 39,9 triệu tấn, bằng 100,8% năm 2005.

Sản xuất cây hàng năm khác trong điều kiện thời tiết vụ đông diễn biến không thuận lợi ở các tỉnh phía Bắc nên kết quả giảm so với năm trước. Sản lượng khoai lang đạt 1418,2 nghìn tấn, bằng 98,3%; đậu tương 259,3 nghìn tấn, bằng 88,6%; lạc 457,6 nghìn tấn, bằng 93,5%; riêng mía đạt 15984,9 nghìn tấn, tăng 6,9% nhờ giá thu mua nguyên liệu mía tăng đã khuyến khích người dân mở rộng diện tích.

Do thời tiết ở các tỉnh phía Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên tương đối thuận lợi; giá thu mua cao su, cà phê, chè, hồ tiêu trên thị trường tăng cao đã tạo điều kiện và khuyến khích sản xuất phát triển. Tổng diện tích gieo trồng cây công nghiệp lâu năm đạt 1652 nghìn ha, tăng 18,4 nghìn ha. Sản lượng các cây trồng đều tăng cao: Chè đạt 599,5 nghìn tấn, tăng 5,2%; cà phê  824,4 nghìn tấn, tăng 9,6%; cao su 538,6 nghìn tấn, tăng 11,8%; hồ tiêu đạt 82,2 nghìn tấn, tăng 2,4%;   

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tuy bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nhưng nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong công tác phòng chống dịch nên nhìn chung vẫn duy trì được tiến độ phát triển. Tại thời điểm 01/8/2006, đàn trâu cả nước có 2,9 triệu con, xấp xỉ số đầu con cùng kỳ năm trước; đàn bò 6,5 triệu con, tăng 17,5%; đàn lợn 26,9 triệu con, bằng 97,9%; đàn gia cầm 214,6 triệu con, giảm 2,4%. Sản lượng  thịt hơi các loại tăng khá, trong đó thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 3,1 triệu tấn, tăng 9,3%; thịt bò 159,5 nghìn tấn, tăng 12,2%; thịt lợn 2505,1 nghìn tấn, tăng 9,5%; thịt gia cầm 344,4 nghìn tấn, tăng 7%. Hiện nay, các địa phương đã hoàn thành đợt 1 tiêm vắc xin cúm gia cầm và nhiều địa phương đang triển khai tiêm phòng đợt 2, dịch đã hoàn toàn được khống chê, vì vậy 9 tháng qua không phát sinh thêm ổ dịch nào. Bên cạnh đó, dịch lở mồm long móng ở gia súc đã giảm so với tháng trước, nhưng tính đến ngày 21/9/2006, cả nước vẫn còn 92 xã, phường của 36 quận, huyện thuộc 8 tỉnh, thành phố có dịch chưa qua 21 ngày là: Thái Bình, Hưng Yên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Nội, Quảng Ngãi, Quảng Nam với trên 2600 con gia súc mắc bệnh.

b. Lâm nghiệp

Diện tích rừng tập trung 9 tháng đầu năm ước tính đạt 147,7 nghìn ha, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán 168,5 triệu cây, bằng 98,4%; diện tích rừng được chăm sóc tăng 0,9%; sản lượng gỗ khai thác tăng 0,2%, trong đó một số tỉnh có tiến độ khai thác nhanh như: Quảng Ngãi, Gia Lai, Quảng Nam và Phú Thọ. Công tác bảo vệ rừng luôn được các cấp quan tâm nên diện tích rừng bị thiệt hại 9 tháng đầu năm nay giảm 47,3%, cả nước có 4,6 nghìn ha rừng bị cháy và 2,5 nghìn ha rừng bị chặt, phá.

c. Thuỷ sản

Hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản phát triển nhanh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước và chế biến xuất khẩu. Sản lượng thuỷ sản 9 tháng năm 2006 ước tính đạt 2696,9 nghìn tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó cá 1965,5 nghìn tấn, tăng 9,2%; tôm 324 nghìn tấn, tăng 8,4%, trong đó sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 1146,1 nghìn tấn, tăng 19,6%, (sản lượng cá tăng 24,5%, tôm tăng 12%). Khai thác hải sản gặp khó khăn do thời tiết diễn  biến phức tạp, cơn bão số 1 để lại hậu quả nặng nề, giá xăng dầu tăng cao nên sản lượng khai thác 9 tháng chỉ đạt 1409,5 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả khai thác nguồn thuỷ sản tự nhiên trên các sông hồ thì sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 1550,8 nghìn tấn, tăng 1%.

 

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 9 tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước, giá trị sản xuất theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 46,2 nghìn tỷ đồng, tăng 18,7%, trong đó doanh nghiệp Nhà nước tăng 8,4%(Trung ương quản lý tăng 9,8%; địa phương quản lý tăng 4,5%); doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 24,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,2% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 4%; các ngành khác tăng 29%). Một số sản phẩm công nghiệp tháng 9 tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Than tăng 22,4%; gas tăng 42,5%; xà phòng tăng 28,5%; sứ vệ sinh tăng 27,7%; xi măng tăng 20%; động cơ điezen tăng 26,2%; xe máy tăng 20,9%.

Tính chung 9 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 365 nghìn tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, doanh nghiệp Nhà nước tăng 9,4% (Trung ương quản lý tăng 12,2%; địa phương quản lý tăng 1,8%); doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 22%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,5% (Dầu mỏ khí đốt giảm 4%, các ngành khác tăng 24,9%).

Giá trị sản xuất công nghiệp khai thác mỏ chỉ tăng 3,4% so với 9 tháng năm 2005, nguyên nhân chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác giảm 7,5% và khí đốt thiên nhiên chỉ tăng 1,2%; giá trị sản xuất công nghiệp điện, khí đốt và nước tăng 12,2%; công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng cao nhất với 18,6%, góp phần chủ yếu tạo nên mức tăng toàn ngành cũng như mức tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Hầu hết các địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn đều đã đạt tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiêp 9 tháng khá cao, đó là: Hà Nội tăng 18,3%; Hải Phòng tăng 18%; Vĩnh Phúc tăng 17,6%; Hà Tây tăng 22,9%; Hải Dương tăng 23,3%; Quảng Ninh tăng 17,5%; Bình Dương tăng 19,4%; Đồng Nai tăng 18,4%; Cần Thơ tăng 21,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,7%.

Ước tính năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 đạt 492 nghìn tỷ đồng, tăng 17,2% so với năm trước, trong đó khu vực Nhà nước đạt 157,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10%; khu vực ngoài Nhà nước 145,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 189,1 nghìn tỷ đồng, tăng 19,9%.

 

4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện  trong nước 9 tháng năm 2006 theo giá thực tế ước tính đạt 287,8 nghìn tỷ đồng, bằng 76,4% kế hoạch năm, trong đó vốn Nhà nước 140,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 48,8% tổng số vốn và bằng 72,6% kế hoạch năm; vốn ngoài Nhà nước 102,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,7% và bằng 80,9%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 44,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 15,5% và bằng 79,6%.

 

Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước 9 tháng năm nay ước tính thực hiện 44,4 nghìn tỷ đồng, bằng 79,1% kế hoạch năm. Vốn ngân sách Trung ương quản lý 13,6 nghìn tỷ đồng, bằng 78,2% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 4,9 nghìn tỷ đồng, bằng 73,7%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1,56 nghìn tỷ đồng, bằng 78,4%; Bộ Y tế 616,3 tỷ đồng, bằng 68,6%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 590,1 tỷ đồng, bằng 66,6%; Bộ Văn hoá Thông tin 309,9 tỷ đồng, bằng 72,4%; Bộ Thuỷ sản 131,8 tỷ đồng, bằng 68,3%; Bộ Công nghiệp 98,1 tỷ đồng, bằng 67,7%; riêng Bộ Xây dựng đạt 2,39 nghìn tỷ đồng, bằng 115,9%, chủ yếu do gấp rút đầu tư cho công trình Trung tâm Hội nghị Quốc gia để kịp hoàn thành và bàn giao phục vụ tổ chức Hội nghị APEC vào tháng 11/2006. Vốn ngân sách do địa phương quản lý 30,8 nghìn tỷ đồng, bằng 79,5% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có khối lượng vốn đầu tư lớn là: Thành phố Hồ Chí Minh 4,9 nghìn tỷ đồng, bằng 62% kế hoạch năm; Hà Nội 3,1 nghìn tỷ đồng, bằng 66,9%; Đà Nẵng 1,7 nghìn tỷ đồng, bằng 78,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1,6 nghìn tỷ đồng, bằng 76,9%; Đồng Nai 1 nghìn tỷ đồng, bằng 80,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục phát triển. Tính từ đầu năm đến 20/9/2006 cả nước có 580 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 3,85 tỷ USD, tăng 1,8% về số dự án và tăng 47,7% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2005. Vốn đăng ký bình quân 6,6 triệu USD/dự án, cao hơn mức 4,6 triệu USD/dự án của cùng kỳ năm trước, trong đó một số dự án có quy mô vốn đầu tư lớn như: Công ty TNHH Intel Products Việt Nam đầu tư 605 triệu USD; công ty TNHH Tycoons Worldwide Steel (Vietnam) đầu tư xây dựng nhà máy cán thép 556 triệu USD; công ty TNHH Phát triển THT 314 triệu USD; công ty TNHH Winvest Investment (Việt Nam) 300 triệu USD; công ty cảng Container Trung tâm Sài Gòn 249 triệu USD...

Ngoài ra, 9 tháng qua đã có 334 lượt dự án được cấp bổ sung với tổng số vốn 1,3 tỷ USD, trong đó một số dự án có số vốn tăng lớn là: Công ty TNHH công nghiệp gốm Bạch Mã (Việt Nam) tăng 150 triệu USD; công ty TNHH Giầy Ching Luh Việt Nam 98 triệu USD; công ty TNHH Canon Việt Nam 70 triệu USD; công ty TNHH H¬ưng Nghiệp Formosa 66,4 triệu USD... Tính chung tổng vốn đầu tư nước ngoài gồm cả vốn của dự án cấp mới và vốn bổ sung trong 9 tháng năm 2006 là 5,15 tỷ USD, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước và bằng 79,2% kế hoạch năm.

 

Đầu tư nước ngoài được cấp phép mới trong 9 tháng năm nay tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và xây dựng với 402 dự án và 2,6 tỷ USD, chiếm 69,3% số dự án và 67,4% tổng vốn đăng ký; khu vực dịch vụ 143 dự án và 1,19 tỷ USD, chiếm 24,7% số dự án và 31% tổng vốn đăng ký; khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản 35 dự án và 62 triệu USD, chỉ chiếm 6% số dự án và 1,6% tổng vốn đăng ký. 

Các địa phương có điều kịên thuận lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm vẫn là nơi thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài, trong đó thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với 166 dự án và 1065,9 triệu USD, chiếm 28,6% tổng số dự án và 27,7% tổng vốn đăng ký; Hà Nội 84 dự án và 513,7 triệu USD, chiếm 14,5% số dự án và 13,3% vốn đăng ký; Bà Rịa - Vũng Tàu 8 dự án và 349,5 triệu USD; Bình Dương 95 dự án và 255,8 triệu USD; Đồng Nai 59 dự án và 222,2 triệu USD...; riêng Quảng Ngãi tuy chỉ có 1 dự án nhưng vốn đăng ký lên đến 556 triệu USD, chiếm 14,4% tổng vốn đăng ký.

Trong 36 nước và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép đầu tư vào Việt Nam 9 tháng qua, đặc khu HC Hồng Kông (Trung Quốc) có số vốn đầu tư lớn nhất với 636,1 triệu USD, chiếm 16,5% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Hàn Quốc 599,2 triệu USD, chiếm 15,6%; Quần đảo Cay-men 576 triệu USD, chiếm 15%; Nhật Bản 482,6 triệu USD, chiếm 12,5%; Hoa Kỳ 467,3 triệu USD, chiếm 12,1%...

 

5. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước tính đạt 50 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước, trong đó thương nghiệp tăng 3,5%; dịch vụ tăng 3,6%. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ cả nước ước tính đạt 418,5 ngh n tỷ đồng, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước đạt 52,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,5% và tăng 9,5%; kinh tế cá thể đạt 262,5 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trong lớn nhất với 62,7% và tăng 21,7%; kinh tế tư nhân đạt 88,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,2% và tăng 23,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 2,6% và tăng 20,3%.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 9 tháng đầu năm ước tính đạt 62,15 tỷ USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó xuất khẩu đạt 29,40 tỷ USD, tăng 24,2%; nhập khẩu đạt 32,75 tỷ USD, tăng 19,3%. Trị giá nhập siêu 3,4 tỷ USD, bằng 11,4% xuất khẩu, giảm nhiều so với tỷ lệ 16% cùng kỳ năm 2005, chủ yếu do nhập khẩu có xu hướng giảm nhờ một số sản phẩm công nghiệp chế biến sản xuất trong nước đang từng bước thay thế hàng nhập khẩu.

Kim ngạch xuất khẩu tháng 9 đạt 3,3 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch 9 tháng đầu năm 2006 lên 29,4 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 12,29 tỷ USD, tăng 20,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 10,63 tỷ USD, tăng 32,6%.

Trong các mặt hàng xuất khẩu, trị giá dầu thô 9 tháng đạt 6,47 tỷ USD tương đương 12,5 triệu tấn, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng trị giá xuất khẩu với 22%. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đứng thứ hai với 4,46 tỷ USD, chiếm 15,2% tổng trị giá xuất khẩu, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm 2005 và vẫn giữ được thị trường tương đối ổn định, đứng đầu là Mỹ, tiếp đến là EU, Nhật Bản…Xuất khẩu giày dép đạt 2,64 tỷ USD, tăng 21,4%, trong bối cảnh thị trường EU có xu hướng chững lại do nhiều doanh nghiệp từ chối các hợp đồng xuất khẩu nhưng thị trường Ôx-trây-lia đang có nhiều thuận lợi, đặc biệt trong 3 tháng gần đây, xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Ôx-trây-lia đạt bình quân 4 triệu USD/tháng.

Một số mặt hàng khác có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD vẫn giữ mức tăng trưởng tương đối cao: Điện tử, máy tính đạt 1,22 tỷ USD, tăng 19,1%; thuỷ sản đạt 2,33 tỷ USD, tăng 19,2%; sản phẩm gỗ đạt 1,35 tỷ USD, tăng 23,8%, trong đó thuỷ sản có khả năng cạnh tranh mạnh với các nước trong khu vực và đang tiếp tục khai thác để mở rộng sang các thị trường Nhật Bản, EU, Mỹ, Hàn Quốc …. Riêng gạo xuất khẩu chỉ đạt 4,1 triệu tấn, giảm 8,4% về lượng và 7,2% về trị giá. Các nông sản khác như cà phê, cao su, hạt tiêu đều được lợi về giá nên trị giá xuất khẩu tăng cao hơn so với mức tăng về lượng: Cà phê giảm 8,2% về lượng, tăng 37,2% về trị giá; cao su tăng 32,5% về lượng và tăng 97,1% về trị giá; hạt tiêu tăng 22,3% về lượng và tăng 35,4% về trị giá. 

Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đạt 32,75 tỷ USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước và giảm so với mức tăng 19,5% của cùng kỳ năm 2005, trong đó khu vực kinh tế trong nước 20,7 tỷ USD, tăng 18,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 12,1 tỷ USD, tăng 20,6%. Máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất vẫn là những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu cao. Máy móc, thiết bị 4,71 tỷ USD, tăng 22,1%; điện tử, máy tính và linh kiện 1,45 tỷ USD, tăng 18,8%; xăng dầu 8,63 triệu tấn, giảm 6,7% và đạt trị giá 4,73 tỷ USD, tăng 25,1%; sắt, thép vẫn giữ ở mức trên 500 nghìn tấn/tháng từ đầu quý 3 đến nay, trong đó đối tác lớn nhất xuất khẩu sang Việt Nam là Trung Quốc với 1,8 triệu tấn, chiếm gần 48% tổng lượng sắt, thép nhập khẩu của cả nước, tiếp đến là Nhật Bản với 541 nghìn tấn; Nga, Đài Loan, Hàn Quốc với mức trên 200 nghìn tấn từ mỗi thị trường, đưa sản lượng sắt, thép nhập khẩu 9 tháng lên 4,3 triệu tấn, tăng 1,4%.

Giá tiêu dùng tháng 9/2006 so với tháng trước tăng 0,3%, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,2% do giá thực phẩm tháng này giảm 0,7% (tháng trước tăng 0,1%) và giá lương thực tăng 0,4%, không cao hơn nhiều so với mức tăng 0,3% của tháng trước. Nhóm hàng hoá có giá tăng cao hơn mức tăng của tháng trước là: Đồ uống và thuốc lá 0,3%; may mặc, mũ nón, giầy dép 0,7%; thiết bị và đồ dùng gia đình 0,4%; giáo dục 0,7%; văn hoá, thể thao, giải trí 0,4%, trong đó nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép và nhóm giáo dục tăng nhiều hơn do tác động của sức mua trên thị trường hàng hoá phục vụ năm học mới. Các nhóm hàng hoá còn lại có mức tăng giá thấp hơn mức tăng tháng trước: Nhà ở và vật liệu xây dựng 0,9%; dược phẩm, y tế 0,2%.  

So với tháng 12 năm trước, giá tiêu dùng tháng này tăng 5,1%, trong đó nhóm hàng hoá có mức tăng giá cao hơn mức tăng chung là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 5,3% (lương thực 6%); nhà ở và vật liệu xây dựng 6,1%; phương tiện đi lại, bưu điện 6,3%, giá các nhóm hàng hoá tăng ở mức dưới 5% gồm có: Đồ uống và thuốc lá 4,1%; may mặc, mũ nón, giầy dép 4,6%; thiết bị và đồ dùng gia đình 4,3%; dược phẩm y tế 3,4%; giáo dục 1,8%; văn hoá, thể thao, giải trí 2,8%; đồ dùng và dịch vụ khác 3,7%.

Giá tiêu dùng tháng 9/2006 so với cùng kỳ năm 2005 tăng 6,9%, trong đó nhóm hàng hoá có mức tăng giá cao là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 7,7%; may mặc, mũ nón, giầy dép 6,2%; nhà ở và vật liệu xây dựng 8,7%; thiết bị và đồ dùng gia đình 5,6%; phương tiện đi lại, bưu điện 5,6%; đồ dùng và dịch vụ khác 5,4%. Hai nhóm còn lại có mức tăng thấp hơn là giáo dục tăng 3,1% và văn hoá, thể thao giải trí tăng 3,3%.

Giá vàng tháng này so với tháng trước giảm 2,9% (tháng trước tăng 2,3%),  so với tháng 12/2005 là 25% và so với cùng kỳ năm 2005 là 41%, thấp hơn mức tăng tương ứng 28,6% và 47,6% của giá vàng tháng trước. Giá đô la Mỹ trong tháng tăng nhẹ ở mức 0,1% so với tháng trước, so với tháng 12/2005 tăng 0,6% và so với cùng kỳ năm trước tăng 0,8%.

Ngành Vận tải mặc dù gặp khó khăn về giá nhiên liệu trên thị trường không ổn định nhưng nhờ sự quản lý và điều hành hợp lý của các doanh nghiệp nên nhìn chung vẫn đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của nhân dân.

Vận tải hành khách 9 tháng năm 2006 ước tính đạt 1037,4 triệu lượt khách và 44,1 tỷ lượt khách.km, tăng 9,2% về lượt khách và tăng 10% về lượt khách.km so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, các đơn vị trung ương quản lý đạt 15,2 triệu lượt khách và 12,7 tỷ lượt khách.km, tăng 0,7% về lượt khách và 10,8% về lượt khách.km; các đơn vị địa phương quản lý đạt 1022,2 triệu lượt khách và 31,4 tỷ lượt khách.km, tăng 9,3% và 9,7%. Hiện nay, nhiều tuyến xe buýt, xe khách liên tỉnh được mở rộng và tăng cường trên địa bàn cả nước, hoạt động của các hãng taxi cũng năng động hơn nên vận tải hành khách bằng đường bộ vẫn giữ mức tăng trưởng cao và ổn định với mức tăng 10,2% về số lượt khách và 10,1% về lượt khách.km; mức tăng tương ứng của đường sông là 4% và 4,9%; đường hàng không 13,1% và 17,7%; đường biển 11,9% và 10,6%; riêng đường sắt giảm 7,8% và giảm 2,8%.

Vận tải  hàng hoá 9 tháng đầu năm nay ước tính đạt 256,3 triệu tấn và 64,6 tỷ tấn.km, tăng 8% về tấn và tăng 9,1% về tấn.km so với cùng kỳ năm 2005. Trong đó, các đơn vị trung ương vận chuyển 36 triệu tấn và 47,8 tỷ tấn.km, tăng 5,8% về tấn và tăng 9,6% về tấn.km; các đơn vị địa phương vận chuyển 220,3 triệu tấn và 16,8 tỷ tấn.km, tăng 8,4% và tăng 7,9%. Vận tải hàng hoá ở hầu hết các ngành đều tăng về tấn và tấn.km so với cùng kỳ năm trước: Đường bộ tăng 9% và 9%; đường biển tăng 5,9% và 8,9%; đường sông tăng 6,4% và 6,2%; đường sắt tăng 5,3% và 20%; đường hàng không tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng có mức tăng khá cao với 14,3% và 18,1%.

Khách quốc tế đến Việt Nam 9 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 2,68 triệu lượt người, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không 1,96 triệu lượt người, tăng 15,5%; khách đến bằng đường biển 177 nghìn lượt người, tăng 16,8% và khách đến bằng đường bộ 549 nghìn lượt người, giảm 23,3%. Nhìn chung, chất lượng phục vụ chưa được cải thiện rõ rệt nên lượng khách đến với mục đích du lịch nghỉ ngơi chưa cao, chỉ tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Số khách đến với mục đích công việc tăng 17,3% và thăm thân nhân tăng 11%.

Các nước có số khách vào Việt Nam với số lượng nhiều và tăng cao so với cùng kỳ năm 2005 là: Hàn Quốc 306,2 nghìn lượt người, tăng 30,6%; Hoa Kỳ 291,8 nghìn lượt người, tăng 15,2%; Nhật Bản 277,8 nghìn lượt người, tăng 20,2%; Ôx-trây-li-a 124,8 nghìn lượt người, tăng 16,4%. Riêng khách đến từ Trung Quốc tuy đạt mức cao nhất với 414,9 nghìn lượt người nhưng lại giảm 25,9% so với 9 tháng năm trước. Điểm đáng chú ý là một số nước có lượng khách đến Việt Nam không nhiều nhưng đạt mức tăng khá cao trong 9 tháng vừa qua như: Thái Lan tăng 45%; Na Uy tăng 29,7%; Xin-ga-po tăng 28,8%.

Ngành Bưu chính, Viễn thông đang cố gắng để đẩy nhanh tiến độ hội nhập quốc tế với nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá cước và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Số thuê bao điện thoại mới trong tháng 9 năm 2006 ước tính đạt 1,1 triệu thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại mới 9 tháng lên 6,6 triệu thuê bao, riêng Tập đoàn Bưu chính Viễn thông 3,1 triệu thuê bao. Tính đến hết tháng 9/2006, cả nước đã có 22,5 triệu thuê bao, trong đó 16,5 triệu thuê bao (7,4 triệu thuê bao cố định, cityphone và 9,1 triệu thuê bao di động) thuộc về  Tập đoàn Bưu chính Viễn thông.

Số thuê bao internet mới trong tháng 9 ước tính đạt 99 nghìn thuê bao, 9 tháng đầu năm đạt 964,1 nghìn thuê bao, tăng 52,5% so với cùng kỳ năm trước. Cả nước có 3,87 triệu thuê bao tính đến thời điểm cuối tháng 9/2006, tăng 68,9% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó tập đoàn Bưu chính Viễn thông 1,66 triệu thuê bao, tăng 58,7%.

Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông 9 tháng năm 2006 ước tính đạt 26,3 nghìn tỷ đồng, riêng tập đoàn Bưu chính Viễn thông 24,6 nghìn tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2005.

 

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư

Do sản xuất 9 tháng đầu năm phát triển với tốc độ khá nên mức sống dân cư ở cả thành thị và nông thôn tiếp tục được cải thiện. Tình trạng thiếu đói giáp hạt  trong dân đã giảm so với 9 tháng năm 2005, số lượt hộ thiếu đói giảm 31,5% và số lượt nhân khẩu thiếu đói giảm 33,3% so với cùng kỳ năm 2005. Tuy nhiên, đời sống nông dân tại một số địa phương còn gặp khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai và giá cả vật tư nông nghiệp tăng cao. Hoạt động trợ giúp xã hội vẫn là công tác được quan tâm đặc biệt, tính đến tháng 9 đã có 6,5 nghìn nhà tình nghĩa và 63 nghìn nhà tình thương được xây dựng và sửa chữa giúp các gia đình thuộc diện chính sách và các gia đình nghèo.

2. Hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao

Trong 9 tháng năm 2006, ngành Văn hóa Thông tin đã tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền chính trị và tổ chức các hoạt động văn hóa chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, đặc biệt là các hoạt động tuyên truyền phục vụ  Đại hội X của Đảng và chuẩn bị các công việc phục vụ Hội nghị APEC diễn ra vào tháng 11/2006. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh, cả nước hiện có khoảng 12,8 triệu gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa và 32,5 nghìn làng, thôn, bản văn hóa.

Công tác thanh tra, kiểm tra tiếp tục được tăng cường. Từ đầu năm đến nay, thanh tra văn hóa của các Bộ, ngành và các địa phương trong cả nước đã tiến hành kiểm tra hành chính gần 13,2 nghìn lượt cơ sở kinh doanh hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, phát hiện và xử lý gần 3,7 nghìn vụ vi phạm, cảnh cáo 519 cơ sở, đình chỉ và thu hồi giấy phép kinh doanh của hàng trăm cơ sở khác. Trong 9 tháng qua, ngành văn hóa thông tin cũng đã xuất bản được gần 13,4 nghìn đầu sách các loại với  153,4 triệu bản sách.

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn, các hoạt động chính trị trọng đại của đất nước. Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia hưởng ứng dưới nhiều hình thức khác nhau, góp phần nâng cao đời sống tình thần và thể chất. Ngành Thể dục, thể thao cũng đã tổ chức thành công các cuộc thi hướng tới Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ V ở cấp cơ sở, đồng thời phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp bồi dưỡng, phổ cập môn bơi để phòng chống tai nạn cho trẻ em các tỉnh thường xuyên có lũ lụt. Nhiều giải thể thao đã được tổ chức thành công như hội thi thể thao gia đình lần thứ nhất khu vực I tại Hải Dương, giải quần vợt tại Hà Nội chào mừng hội nghị quốc tế APEC 2006…

Trong thể thao thành tích cao, hoạt động trọng tâm 9 tháng đầu năm là tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ V và chuẩn bị tham dự Đại hội Thể thao Châu Á (ASIAD) tại Dohah, Quatar. Cũng trong 9 tháng qua, chúng ta đã tổ chức thành công 45 giải thi đấu thể thao trong nước và quốc tế tại Việt Nam và tham gia 32 giải quốc tế khác, mang về nhiều giải thưởng cao: Giành giải nhất với 20 HCV, 12 HCB tại giải Bắn súng Đông Nam Á (SEASA 30); 4 HCV, 1 HCB và 1 HCĐ tại giải Judo quốc tế Thái Lan.

3. Giáo dục, đào tạo

Năm học 2005-2006, số trường học của cả nước tăng so với năm học 2004-2005, trong đó có 10,9 nghìn trường mầm non, mẫu giáo, tăng 5,1%; 14,7 nghìn trường tiểu học, tăng 1,2%; 9,4 nghìn trường trung học cơ sở, tăng 3,8% và gần 2 nghìn trường trung học phổ thông, tăng 6,8%. Tuy nhiên đến nay, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia trên cả nước còn ở mức thấp với 700 trường mầm non; 3,7 nghìn trường tiểu học; 681 trường trung học cơ sở và 105 trường trung học phổ thông.

Cũng trong năm học 2005-2006, cả nước có 513,4 nghìn cháu đến nhà trẻ, tăng 21,8% so với năm học trước; 2,4 triệu học sinh mẫu giáo, tăng 4,2%; 7,3 triệu học sinh tiểu học, giảm 5,7%; 6,4 triệu học sinh trung học cơ sở, giảm 3,7% và gần 3 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 7,7%

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2005-2006 đạt 93,7%, tăng 3% so với năm học trước. Trong kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 vừa qua, cả nước có 2,2 nghìn học sinh được giải quốc gia. Nhìn chung, công tác tổ chức thi cử thực hiện chưa nghiêm túc, gian lận thi cử vẫn còn xuất hiện ở một số địa phương.

Theo báo cáo của các địa phương, năm học 2006-2007cả nước có khoảng 558 nghìn trẻ em đến nhà trẻ, tăng 8% so với năm học trước và đạt 12,1% tổng số trẻ em từ 0-2 tuổi; 2,6 triệu học sinh mẫu giáo, tăng 3,5% và đạt 63% tổng số trẻ em từ 3-5 tuổi; 7,1 triệu học sinh tiểu học, giảm 2,4%; 6,4 triệu học sinh trung học cơ sở, giảm 1,4% và 3,2 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 6,8%. Số giáo viên tiểu học giảm 2% so với năm học trước và đạt tỷ lệ 1,3 giáo viên/lớp; giáo viên trung học cơ sở tăng 3,1%, đạt tỷ lệ 1,9 giáo viên/lớp; giáo viên trung học phổ thông tăng 8%, đạt tỷ lệ 1,8 giáo viên/lớp. So với định mức yêu cầu 2,1 giáo viên/lớp thì cấp trung học phổ thông còn thiếu khoảng 18 nghìn giáo viên.

Các trường đại học và cao đẳng đã hoàn thành việc chấm thi và tuyển sinh năm nay. Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết quả thi đại học năm nay kém hơn so với năm trước, tính chung cho các trường, có khoảng 300 nghìn thí sinh đạt tổng 3 môn thi dưới 6 điểm; 161,6 nghìn thí sinh đạt từ 15 điểm trở lên, chiếm 18% tổng số thí sinh dự thi.

4. Tình hình dịch bệnh

Tính chung 9 tháng đầu năm, cả nước có 49 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, giảm 17,9% so với cùng kỳ năm trước; 41,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, tăng 55,9 % và gần 5,2 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút, tăng 34,2%. Tổng số người nhiễm HIV được phát hiện trong cả nước tính đến 20/9/2006 là 112,7 nghìn người, trong đó 19,2 nghìn bệnh nhân AIDS và gần 11,2 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tuy đã được quan tâm nhiều hơn, song các vụ ngộ độc vẫn xảy ra tại một số địa phương như: Bình Thuận, Hải Dương, Long An, Hà Giang….Từ đầu năm đến 18/9/2006 cả nước đã có 4,6 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 52 người đã  tử vong.

5. Tai nạn giao thông

Tính chung 8 tháng năm 2006 đã có 10 nghìn vụ tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn cả nước, làm chết 8,5 nghìn người và bị thương 7,7 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 1,4%; số người bị thương giảm 11,9%; riêng số người chết tăng 9,1%. Bình quân một ngày trong 8 tháng qua xảy ra 41 vụ tai nạn giao thông, làm chết 35 người và làm bị thương 32 người.

6. Thiệt hại do lụt bão

Thời tiết 9 tháng đầu năm nay diễn biến khá phức tạp, hiện tượng lũ lụt; bão và sạt lở đất xảy ra tại nhiều tỉnh, thành phố gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm khoảng 450 người chết và mất tích, riêng trong cơn bão số 1 gần 250 người; 256,7 nghìn m3 đất đê bị sạt lở và bị cuốn trôi; khoảng 10 vạn ha lúa, hoa màu bị ngập, hư hại, trong đó diện tích lúa bị mất trắng là 28,4 nghìn ha; 7,1 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; gần 1 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hàng vạn nhà ở bị sạt lở, tốc mái và ngập nước. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 672,5 tỷ đồng.

Khái quát lại, nền kinh tế-xã hội nước ta 9 tháng đầu năm nay tiếp tục phát triển theo hướng tích cực. Các cấp, các ngành đều cố gắng phát huy năng lực,  khắc phục khó khăn thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tạo ra mức tăng trưởng khả quan cho nền kinh tế. Sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá, các sản phẩm chủ yếu đang từng bước được xây dựng thương hiệu để có thể cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu; chỉ số giá tiêu dùng đã có xu hướng tăng chậm lại; kim ngạch xuất khẩu tăng so với năm trước; nhập siêu giảm; vốn đầu tư thực hiện trong nước và vốn đầu tư nước ngoài đều tăng nhanh. Tình hình xã hội ổn định, mức sống dân cư được cải thiện hơn. Theo xu hướng này, dự báo cả năm 2006, tổng sản phẩm trong nước có thể đạt mức tăng 8,13%, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,41%; khu vực dịch vụ tăng 8,16%.

Nguồn TCTK

 
In bài
Các tin khác
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình Kinh tế-Xã hội quý I năm 2006 : Báo cáo tình hình Kinh tế-Xã hội quý I năm 2006
Báo cáo tình hình Kinh tế-Xã hội tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình Kinh tế-Xã hội tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 01 năm 2006: Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 01 năm 2006
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.