Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2006


Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm 2006:
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng đầu năm 2006
06/09/2010 17:17:00

 

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 8 THÁNG NĂM 2006

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Lúa mùa: Tính đến trung tuần tháng 8/2006, cả nước gieo cấy 1478,4 nghìn ha lúa mùa, bằng 100,4% cùng kỳ năm trước. Các tỉnh miền Bắc gieo cấy được 1188,8 nghìn ha, bằng 99,4%; trong đó các tỉnh đồng bằng sông Hồng gieo cấy được 559,4 nghìn ha, bằng 98,3%, giảm 9,9 nghìn ha do một số tỉnh chuyển diện tích lúa mùa sang đất chuyên dùng và nuôi thuỷ sản (Hà Tây giảm 1768 ha, Hải Dương giảm 754 ha, Thái Bình giảm 490 ha...); các tỉnh Bắc Trung bộ 188,7 nghìn ha, bằng 103,1%, tăng 5,6 nghìn ha; các tỉnh miền núi 440,7 nghìn ha, bằng 99,3%. Các tỉnh miền Nam đã gieo sạ 289,6 nghìn ha, bằng 105% cùng kỳ năm trước do tăng diện tích ở các tỉnh duyên hải miền Trung. Trong tháng Tám, do mưa kéo dài trên diện rộng ở miền Bắc và Đông Nam bộ làm 51,5 nghìn ha lúa mùa bị ngập, trong đó các tỉnh có diện tích lúa mùa bị ngập nhiều như: Nam Định, Yên Bái, Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên… Mưa lớn đã làm phát sinh sâu bệnh gây hại cho diện tích lúa mùa ở một số tỉnh (Hải Dương 7,7 nghìn ha, Ninh Bình 6,8 nghìn ha, Vĩnh Phúc 6,7 nghìn ha, Hà Nội 500 ha); cả nước đã có trên 10 nghìn ha hoa màu bị ngập.

Lúa hè thu: Tính đến giữa tháng 8, cả nước gieo cấy được 2245,3 nghìn ha lúa hè thu, bằng 100,5% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh miền Nam gieo sạ được 2087,7 nghìn ha, bằng 99,9%, riêng đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ được 1844,7 nghìn ha, bằng 98,8%. Các tỉnh miền Nam đã thu hoạch 1160,6 nghìn ha lúa hè thu, bằng 108,1% cùng kỳ năm trước và chiếm 55,6% diện tích gieo sạ, trong đó các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long thu hoạch 1103 nghìn ha, bằng 110,9% và chiếm 59,8%. Theo báo cáo ước tính của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, năng suất trên diện tích đã thu hoạch giảm từ 1-3 tạ/ha so với cùng kỳ, chủ yếu do ảnh hưởng của bệnh rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá trên diện rộng: Diện tích lúa hè thu bị rầy nâu gây hại gần 59,5 nghìn ha, chiếm 2,8% tổng diện tích hè thu của cả vùng, diện tích bị bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá 46,8 nghìn ha, chiếm 2,2%. Ở một số tỉnh, năng suất lúa hè thu ước tính giảm so với vụ hè thu năm trước như: Đồng Tháp giảm 2,6 tạ/ha, Long An giảm 3,4 tạ/ha, Cần Thơ giảm 1,0 tạ/ha, Hậu Giang giảm 2,6 tạ/ha, An Giang giảm 3 tạ/ha...

Cây trồng khác: Đến thời điểm này, cả nước đã gieo trồng được 884,6 nghìn ha ngô, bằng 100,2% cùng kỳ năm trước; 377,4 nghìn ha sắn, bằng 107,4%; 171,9 nghìn ha đậu tương, bằng 94,3%; 221,8 nghìn ha lạc, bằng 95,7%; 631 nghìn ha rau đậu các loại, bằng 102,1%.

Chăn nuôi: Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố đàn gia súc (trừ đàn trâu tiếp tục giảm) và gia cầm chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước do tâm lý sợ dịch bệnh nên bà con nông dân không đầu tư tăng đàn nhanh. Trong 8 tháng qua, không phát sinh thêm ổ dịch cúm gia cầm mới nào; các địa phương đã hoàn thành tiêm vắc xin cúm gia cầm đợt I năm 2006 và tiếp tục tiêm phòng bổ sung cho đàn gia cầm mới nuôi. Tính đến 20/8, cả nước còn 118 xã của 52 huyện thuộc 12 tỉnh có dịch lở mồm, long móng ở gia súc chưa qua 21 ngày là: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hà Nội, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà, Gia Lai, Thái Nguyên, Long An và Đồng Tháp với 5367 con trâu bò, 575 con lợn mắc bệnh.

Lâm nghiệp

Thời tiết trong tháng có mưa trên phạm vi cả nước đã tạo thuận lợi cho việc trồng rừng. Diện tích rừng trồng tập trung trong tháng 8 ước tính đạt 15,1 nghìn ha, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây trồng phân tán 10,6 triệu cây, tăng 2,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 358,3 nghìn m3, tăng 0,1%.

Tính chung 8 tháng, diện tích rừng trồng tập trung trong cả nước ước tính đạt 132,2 nghìn ha, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2005; số cây trồng phân tán đạt 156 triệu cây, tăng 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2056,1 nghìn m3, tăng 0,3%; diện tích rừng bị thiệt hại 1047,5 ha, trong đó Kon Tum 270,2 ha, Lâm Đồng 293,4 ha.

Thuỷ sản

Sản lượng thuỷ sản tháng 8 ước tính đạt 346,6 nghìn tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó cá tăng 10,1%; tôm tăng 14,3%. Mặc dù thời tiết mưa nhiều đã làm thiệt hại trên 2 nghìn ha diện tích nuôi cá, tôm nhưng đang trong thời kỳ thu hoạch tôm và giá cá tra, cá ba sa tăng đã khuyến khích người nông dân thu hoạch để bán nên  sản lượng thuỷ sản nuôi trồng vẫn tăng khá. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước tính đạt 169,3 nghìn tấn, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 27%; tôm tăng 18,1%. Sản lượng thuỷ sản khai thác đạt thấp do ảnh hưởng của áp thấp đã gây mưa và giá xăng dầu tăng làm cho hoạt động đánh bắt thuỷ sản gặp khó khăn, ước tính 177,3 nghìn tấn giảm 0,4% so với cùng  kỳ năm 2005, trong đó khai thác biển 159,7 nghìn tấn giảm 0,7%. Tính chung 8 tháng, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 2368,5 nghìn tấn, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 956,7 nghìn tấn, tăng 19,4%; khai thác 1411,8 nghìn tấn, tăng 1,9%.

2. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 8 ước tính tăng 18,8% so với tháng 8 năm trước, trong đó doanh nghiệp nhà nước tăng 10,6% (trung ương quản lý tăng 12,5%, địa phương quản lý tăng 5%), doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng  24,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,9% (dầu mỏ, khí đốt giảm 4,7%, các ngành khác tăng 28%).

Tính chung 8 tháng năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 9,6% (trung ương quản lý tăng 12,4%, địa phương quản lý tăng 1,7%), khu vực ngoài nhà nước tăng 21,8% và khu vực có đầu tư nước ngoài tăng 19,1% (dầu khí giảm 4%, các ngành sản phẩm khác tăng 24,4%).

Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng cho nền kinh tế và xuất khẩu duy trì tốc độ tăng cao, đã góp phần chính trong tăng công nghiệp 8 tháng như: Than sạch khai thác tăng 20,7%; thu? s?n ch? bi?n tang 13,8%; quần áo may sẵn tăng 19,6%; vải lụa thành phẩm tăng 14,6%; thuốc ống các loại tăng 20,2%; thuốc trừ sâu tăng 17,5%; thộp cỏn tang 16,4%; xi măng tăng 12,2%; di?n tang 12,3%... Bên cạnh đó, do giá một số vật tư, nguyên liệu đầu vào chính như xăng dầu tăng cao và biến động phức tạp, cũng như khó khăn về thị trường tiêu thụ, nhất là thị trường xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ... nên một số sản phẩm công nghiệp tăng thấp hoặc chưa đạt mức sản xuất của cùng kỳ năm trước như: Khí đốt thiên nhiên tăng 2,4%; quần áo dệt kim tăng 7,4%; giấy bìa các loại tăng 11,7%; gạch lát tăng 6,4%;  động cơ điezen tăng 6,4%; động cơ điện tăng 7,1%; xe máy các loại tăng 8,2%... M?t s? sản phẩm sụt giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước nhu: dầu thô khai gi?m 6,3%; mỏy cụng c? gi?m 37,4%; mỏy bi?n th? gi?m 38,2%; tivi l?p rỏp gi?m 3,4%; ụ tụ l?p rỏp gi?m 38%; xe d?p hoàn ch?nh gi?m 39,9%.

 Một số địa phương có qui mô công nghiệp lớn có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp cao hơn mức tăng chung 8 tháng như: Hà Nội tăng 17,1%; Hải Phòng tăng 18,4%; Hà Tây tăng 23,6%; Hải Dương tăng 24,8%; Quảng Ninh tăng 17,5%; Bình Dương 18,5%; Đồng Nai tăng 18,3%; Cần Thơ tăng 21,3%.... Riêng thành phố Hồ Chí Minh có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất toàn quốc, 8 tháng chỉ tăng 13,7% và Bà Rịa Vũng Tàu tăng 8,9%.

3. Đầu tư

Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tháng 8/2006 ước tính thực hiện khoảng 6 nghìn tỷ đồng, bằng 10,7% kế hoạch cả năm, trong đó các đơn vị trung ương quản lý thực hiện 1,9 nghìn tỷ đồng, bằng 11%; các đơn vị địa phương quản lý 4,1 nghìn tỷ đồng, bằng 10,5%. Tính chung 8 tháng năm 2006, thực hiện vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước ước tính  đạt 39,8 nghìn tỷ đồng, bằng 70,9% kế hoạch cả năm. Vốn đầu tư do ngân sách trung ương quản lý thực hiện 12,4 nghìn tỷ đồng, bằng 71,2% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 4,3 nghìn tỷ đồng, bằng 64%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1436 tỷ đồng, bằng 72%;  Bộ Y tế 510,7 tỷ đồng, bằng 56,9%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 487,6 tỷ đồng, bằng 55,1%; Bộ Văn hoá Thông tin 264,8 tỷ đồng, bằng 61,9%; Bộ Thuỷ sản 110,3 tỷ đồng, bằng 57,1%; Bộ Công nghiệp 85,6 tỷ đồng, bằng 59,1%. Riêng Bộ Xây dựng, 8 tháng ước tính thực hiện đã vượt kế hoạch cả năm (bằng 117,9% do công trình Trung tâm Hội nghị Quốc gia đang khẩn trương hoàn thành để bàn giao đúng tiến độ, kịp cho việc tổ chức Hội nghị APEC vào tháng 11/2006). Vốn đầu tư do địa phương quản lý 8 tháng ước tính đạt 27,4 nghìn tỷ đồng, bằng 70,7% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có tỷ lệ thực hiện cao so với kế hoạch năm như: Quảng Ninh đạt 88,1%; Ninh Bình và Kiên Giang đạt 84,1%; Quảng Ngãi 83,7%; Bắc Ninh và Thừa Thiên - Huế đạt 79,3%... Riêng thành phố Hồ Chí Minh 8 tháng thực hiện 4,3 nghìn tỷ đồng, nhưng mới bằng 53,7% kế hoạch năm; Hà Nội 2,9 nghìn tỷ đồng, bằng 62,7%; Đà Nẵng 1,4 nghìn tỷ đồng, bằng 63,1%.

Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 20/8/2006, cả nước có 426 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 2,96 tỷ USD, bình quân vốn đăng ký 1 dự án cấp mới đạt 6,96 triệu USD. Ngoài ra, 8 tháng qua cũng đã có 222 lượt dự án được tăng vốn với số vốn tăng thêm 1095 triệu USD, nâng tổng số vốn cấp mới và tăng thêm trong 8 tháng năm 2006 lên gần 4,1 tỷ USD.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 8 tháng năm nay tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và xây dựng với 296 dự án và 1,76 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 69,5% số dự án và 59,4% tổng vốn đăng ký của cả nước; tiếp đến là khu vực dịch vụ 106 dự án và 1,17 tỷ USD, chiếm 24,9% số dự án và 39,5% tổng vốn đăng ký; khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản 24 dự án và 32,6 triệu USD, chiếm 5,6% số dự án và 1,1% tổng vốn đăng ký. 

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đứng đầu cả nước với 133 dự án và 1057,5 triệu USD, chiếm 31,2% tổng số dự án và 35,7% vốn đăng ký; Hà Nội 71 dự án và 518,5 triệu USD, chiếm 16,7% số dự án và 17,5% số vốn đăng ký; Bà Rịa - Vũng Tàu tuy số dự án chỉ chiếm 1,9% nhưng số vốn đăng ký chiếm 11,8% (8 dự án và 349,5 triệu USD).

Trong 8 tháng năm nay đã có 33 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp mới giấy phép đầu tư vào Việt Nam, trong đó Đặc khu HC Hồng Công (Trung Quốc) là đối tác có số vốn đầu tư lớn nhất với 629,6 triệu USD, chiếm 21,3% tổng vốn đăng ký; Hàn Quốc 558,4 triệu USD, chiếm 18,8%; Hoa Kỳ 444,2 triệu USD, chiếm 15%; Nhật Bản 376,2 triệu USD, chiếm 12,7%...

4. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 8 tháng năm 2006 ước tính đạt 364 nghìn tỷ đồng, tăng 20,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế nhà nước chiếm 12,3%, tăng 8,1%; kinh tế ngoài nhà nước chiếm 85,1%, tăng 23,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,6%, tăng 23%. Phân tích theo ngành kinh tế, thương nghiệp ước tính đạt 296,6 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức (81,5%), tăng 19,5%; khách sạn, nhà hàng chiếm 12,1%, tăng 21%; dịch vụ chiếm 5,7%, tăng 28,8% và kinh doanh du lịch lữ hành chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (chưa đến 1%) nhưng có mức tăng tới 31,5%. Tổng mức bán lẻ trên địa bàn 2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh ước tính đạt 118,3 nghìn tỷ đồng và chiếm 32,5% tổng mức bán lẻ trên cả nước.

Giá tiêu dùng tháng 8/2006 tăng 0,4% so với tháng trước, ngang mức tăng giá của tháng 7 và đây là tháng thứ ba giá tiêu dùng liên tục giữ ở mức tăng 0,4%, trong đó giá tháng 8 của ba nhóm có quyền số lớn trong tổng chi tiêu dùng có tốc độ tăng lần lượt là: nhà ở, vật liệu xây dựng  (+1,1%); phương tiện đi lại, bưu điện (+0,9%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+ 0,2%). Với quyền số tương ứng của mỗi nhóm, mức đóng góp của mỗi nhóm trên vào tăng giá chung từ 0,08 đến 0,11 điểm phần trăm. Giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng còn lại tăng phổ biến ở mức 0,2- 0,5%. Tuy tốc độ tăng giá tháng 6,7,8 ở mức như nhau nhưng biến động giá các nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng có quyền số lớn trong tổng chi tiêu dùng có xu hướng khác biệt: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống không tăng cao hơn mức tăng chung và giảm trong tháng 8; giá nhà ở và vật liệu xây dựng luôn giữ ở mức tăng cao nhất và giá phương tiện đi lại, bưu điện gia tăng qua các tháng (đáng chú ý là trong nhóm này giá phân nhóm phương tiện đi lại đã tăng cao hơn mức tăng chung của nhóm vì giá bưu chính, viễn thông giảm hoặc không thay đổi) và điều này thể hiện rõ dần ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu và nguyên liệu nhập khẩu tới giá tiêu dùng trong nước.

 So với tháng 12/2005 giá tiêu dùng tháng 8/2006 tăng 4,8% và tăng ở tất cả mười nhóm hàng hoá và dịch vụ, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức tăng cao nhất (+5,6%); nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 5,2%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 4,5%; các nhóm còn lại tăng phổ biến ở mức trên 3%; riêng nhóm giáo dục chỉ tăng 1,1% và nhóm văn hoá thể thao, giải trí tăng 2,4%.

So với tháng 8/2005 giá tiêu dùng tháng 8/2006 tăng 7,5%, trong đó tăng cao là các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 8,4%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 9,6% và phương tiện đi lại, bưu điện tăng 7,9% (giá bưu chính viễn thông giảm, chỉ bằng 97,4% giá tháng 8 năm trước). Với tỷ trọng gần 62% tổng chi tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, ba nhóm này tiếp tục đóng góp chính vào tăng giá tháng 8 so với cùng kỳ.

Giá vàng tháng 8/2006 tăng ở mức 2,3% so với tháng trước (sau khi đã giảm 5,6% trong tháng 6 và giảm 3,1% trong tháng 7), chủ yếu do lượng cung vàng trên thị trường thế giới giảm và nhu cầu mua vàng trong nước vẫn tăng, do vậy giá vàng tháng 8 so với tháng 12 năm trước đã tăng 28,6% và tăng 47,6% so với tháng 8 năm trước. Giá đô la Mỹ  tăng nhẹ, tăng 0,1% so với tháng trước, tăng 0,5% so với tháng 12/2005 và tăng 0,8% so với tháng 8 năm trước.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 8 tháng ước tính đạt 54,7 tỷ USD, tăng 22,7%, trong đó xuất khẩu 26 tỷ USD, tăng 24,3%; nhập khẩu 28,7 tỷ USD, tăng 17,4%. Tốc độ tăng nhập khẩu vẫn chậm hơn tốc độ tăng xuất khẩu nhưng khoảng cách đã được thu hẹp đáng kể, chỉ còn chênh lệch khoảng 7 điểm phần trăm (4 tháng nhập khẩu tăng chậm hơn xuất khẩu tới 18 điểm phần trăm), tỷ lệ nhập siêu so với mức kim ngạch xuất khẩu bằng 10,5% và mức nhập siêu 8 tháng khoảng 2,7 tỷ USD.   

Kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2006 ước tính đạt 3,6 tỷ USD, ngang mức thực hiện của tháng 7/2006 nâng tổng kim ngạch 8 tháng năm 2006 lên 26 tỷ USD, tăng 24,3% so với 8 tháng năm 2005, trong đó khu vực kinh tế trong nước 10,95 tỷ USD, tăng 20,8%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô 9,26 tỷ USD, tăng 31,4% và xuất khẩu dầu thô 5,8 tỷ USD, tăng 20,3%.  Xuất khẩu của 4 mặt hàng chủ lực là dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản chiếm 54,4% tổng kim ngạch xuất khẩu và duy trì được mức tăng cao về kim ngạch: Xuất khẩu dầu thô so với cùng kỳ tuy giảm 6,5% về lượng nhưng kim ngạch vẫn tăng trên 20%; dệt may 3,9 tỷ USD, tăng 28,2%; giày dép 2,4 tỷ USD, tăng 21,7% và thuỷ sản 2 tỷ USD, tăng 20,8%. Bên cạnh đó, sản phẩm gỗ đạt 1,2 tỷ USD, tăng 24,4% so với 8 tháng năm trước; hàng điện tử, máy tính 1 tỷ USD, tăng 18%; dây điện và cáp điện 431 triệu USD, tăng 38,1%. Tuy nhiên, cũng có những mặt hàng giảm về kim ngạch như xe đạp và phụ tùng xe đạp; dầu, mỡ động thực vật; đồ chơi trẻ em; mỳ ăn liền. 

Trong các mặt hàng nông sản, ngoài 2 mặt hàng gạo và lạc giảm về khối lượng và kim ngạch, các mặt hàng khác có khối lượng tăng khá cao so với cùng kỳ (trừ cà phê) và kim ngạch đều tăng nhưng với mức độ khác biệt: cao su lượng tăng 39,2%, kim ngạch tăng 111,5%; hạt điều tăng 21,2% và tăng 1,4%; hạt tiêu tăng 34,2% và tăng 43,1%; riêng cà phê lượng giảm 8,7% nhưng kim ngạch tăng 33,8%.

Nhập khẩu tháng 8/2006 ước tính đạt 4 tỷ USD, tăng đáng kể so với tháng 8 năm ngoái với mức tăng 25,2%, chủ yếu do ảnh hưởng của biến động tăng giá nhập khẩu các nguyên, nhiên liệu chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước (xăng dầu tăng 20%, phôi thép tăng 14,2%, chất dẻo tăng 25,5%...). Tính chung 8 tháng, kim ngạch nhập khẩu 28,7 tỷ USD, tăng 17,4% so với 8 tháng năm 2005, trong đó khu vực kinh tế trong nước 18,3 tỷ USD, tăng 17,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 10,4 tỷ USD, tăng 17,7%.

Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu 8 tháng ước tính đạt 4,2 tỷ USD, tăng 25%, do giá tăng tới 30,7% so với cùng kỳ, trong khi lượng chỉ giảm 3,8%; máy móc thiết bị 4 tỷ USD, tăng 18%; sắt, thép 1,9 tỷ USD, giảm 8,7% (lượng tăng 2,6%); thuốc trừ sâu 201 triệu USD, tăng 31,2%; chất dẻo 1,1 tỷ USD, tăng 20,7% (lượng tăng 10,3%); hoá chất 643 triệu USD, tăng 14,9%; giấy 318 triệu USD, tăng 37,2%; vải tăng 30,1%; sợi dệt tăng 46,8%; bông tăng 17,4%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ tăng 10,2%...; riêng phân u rê giảm 14,8% (lượng giảm 10,9%, chủ yếu do nguồn cung trong nước tăng; nguyên phụ liệu dệt, may, da giảm 10,2%. Nhập khẩu ô tô và xe máy tiếp tục giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước, trong đó kim ngạch nhập khẩu ô tô giảm 43,2% (kim ngạch nhập ô tô nguyên chiếc giảm 36,1%, lượng giảm 41,1%); xe máy giảm 9,6% (linh kiện đồng bộ giảm 14,2%).

Vận chuyển hành khách 8 tháng năm 2006 ước tính đạt 862,2 triệu lượt hành khách và 36,9 tỷ lượt hành khách.km, tăng 9,2% về lượt hành khách và tăng 10,1% về lượt hành khách.km so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải trung ương 17,1 triệu lượt khách và 11,8 tỷ lượt hành khách.km, tăng 0,7% và tăng 10,8%; vận tải địa phương 845,1 triệu lượt hành khách và 25,1 tỷ lượt hành khách.km, tăng 9,4% và tăng 9,8%. Các ngành vận tải tăng so với cùng kỳ năm trước là: đường bộ tăng 10,3% về lượt khách và tăng 10,4% về lượt khách.km; đường sông tăng 4% và tăng 4,9%; đường biển tăng 11,9% và tăng 10,6%; đường hàng không tăng 13,1% và tăng 17,4%. Riêng vận tải đường sắt đạt mức thấp so với cùng kỳ năm trước, chỉ bằng 91,3% về lượt hành khách và bằng 96,1% về lượt hành khách.km.

Vận tải hàng hoá: Tháng 8 thời tiết diễn biến khá phức tạp đã làm cho việc vận tải hàng hoá bị ảnh hưởng, nhất là đối với ngành vận tải đường sông. Ngoài ra, mưa  lớn đã gây ra sụt lở đường ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lai Châu, Yên Bái… cùng với việc giá nhiên liệu tăng đã gây không ít khó khăn cho hoạt động kinh doanh vận tải. Tính chung 8 tháng năm 2006, vận chuyển hàng hoá ước tính đạt 225,6 triệu tấn và 58,3 tỷ tấn.km, tăng 8% về tấn và tăng 9,2% về tấn.km so với 8 tháng năm 2005, trong đó các đơn vị vận tải trung ương 33,6 triệu tấn và 43,4 tỷ tấn.km, tăng 5,8% và tăng 9,6%; các đơn vị vận tải do địa phương quản lý 192 triệu tấn và 14,9 tỷ tấn.km, tăng 8,4% và tăng 8%. Theo ngành vận tải, vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không tuy tỷ trọng thấp nhưng vẫn giữ mức tăng cao, tăng 14,4% về tấn và tăng 18,1% về tấn.km so với 8 tháng năm trước; đường bộ tăng 8,9% và tăng 9,1%; đường sắt tăng 5,5% và tăng 20,5% (chủ yếu tăng vận chuyển trên những tuyến đường dài); đường biển tăng 5,8% và tăng 8,9%; đường sông tăng 6,2% và tăng 6,3%.

Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 8/2006 ước tính đạt 288,1 nghìn lượt người, tăng 0,3% so với tháng 8/ 2005. Tính chung 8 tháng năm 2006, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 2,4 triệu lượt người, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch nghỉ ngơi tăng 1,9%; công việc tăng 19,6%; thăm thân nhân 11,8%; riêng khách đến với mục đích khác giảm 6,1%. Khách đến bằng đường hàng không ước tính đạt 1,74 triệu lượt người (chiếm 72,5%) tăng 15,9%; bằng đường biển 158,5 nghìn lượt người, tăng 13%; bằng đường bộ 503,7 nghìn lượt người, giảm 22,6% (chủ yếu do khách đến từ Trung Quốc giảm).

Một số nước có lượng khách đến nước ta đạt mức cao như Hàn Quốc 274,2 nghìn lượt người, tăng 29,6%; Hoa Kỳ 268,4 nghìn lượt người, tăng 16,3%; Nhật Bản 235 nghìn lượt người, tăng 21%; Ôx-trây-li-a 110,9 nghìn lượt người, tăng 18%. Ngoài ra, một số nước lượng khách đến tuy không cao song có tốc độ tăng nhanh như: Khách đến từ Thái Lan tăng 48,6%; Na Uy tăng 32,7%; Xin-ga-po tăng 29,7%; Đan Mạch tăng 26%; Liên bang Nga 21,7%. Bên cạnh đó, khách đến từ một số nước và vùng lãnh thổ giảm so với cùng kỳ như: In-đô-nê-xi-a giảm 1,2%; Cam-pu-chia giảm 1,4%; Đài Loan giảm 2,6%; Phi-li-pin giảm 11,7%; Lào giảm 13,7%; I-ta-li-a giảm 15,1%; riêng khách đến từ Trung Quốc đạt 380,3 nghìn lượt người nhưng chỉ bằng 74,8% cùng kỳ năm 2005.

Bưu chính, viễn thông: Hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển mạnh, đặc biệt là trong lĩnh vực viễn thông. Số thuê bao điện thoại mới trong tháng 8/2006 ước tính đạt 950 nghìn thuê bao, nâng tổng số thuê bao 8 tháng năm 2006 lên 5,55 triệu thuê bao. Tính đến hết tháng 8/2006, trên phạm vi cả nước đã có 21,4 triệu thuê bao, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông 16 triệu thuê bao (7,31 triệu thuê bao cố định, cityphone và 8,69 triệu thuê bao di động) chiếm 74,8% tổng số thuê bao của toàn ngành. Sắp tới Tổng công ty Điện lực sẽ đưa vào thị trường dịch vụ điện thoại cố định không dây (E-com) cho phép khách hàng sử dụng hiệu quả các dịch vụ giá trị gia tăng. Các nhà cung cấp dịch vụ tăng cường khuyến mại, giảm giá và mở rộng thêm các dịch vụ gia tăng để tạo sức hấp dẫn cho người tiêu dùng. Dự kiến từ nay đến cuối năm sẽ có ít nhất một lần điều chỉnh giá cước mới do đó lượng thuê bao mới sẽ tiếp tục tăng nhanh.

Số thuê bao Internet phát triển mới tiếp tục tăng, 8 tháng đầu năm số thuê bao ước tính đạt 867,1 nghìn thuê bao, nâng tổng số thuê bao của toàn mạng lên 3,77 triệu thuê bao, trong đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông đạt 1,61 triệu thuê bao.

Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông 8 tháng năm 2006 ước tính đạt 23,3 nghìn tỷ đồng, riêng Tập đoàn Bưu chính Viễn thông 21,86 nghìn tỷ đồng (doanh thu bưu chính đạt 885 tỷ đồng; viễn thông 20 nghìn tỷ đồng; dịch vụ bưu chính, viễn thông khác 992,5 tỷ đồng)

 

5. Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2006 ước tính tăng 15,6% so với 8 tháng năm 2005 và đạt 64,7% kế hoạch năm, trong đó các khoản thu nội địa đạt 62,7%; thu từ dầu thô 70,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 61,8% (thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu 76,5%; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu đạt 62,5%). Một số khoản thu trong thu nội địa đạt khá như: thu từ kinh tế quốc doanh 65,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh 67,9%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 66,7%; thu xổ số kiến thiết 73%; các loại phí, lệ phí 78,4%; riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) mới đạt 51,6%; các khoản thu về nhà đất 58,6%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 8 tháng ước tính tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước và đạt 62,8% kế hoạch năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 60,2% (chi đầu tư xây dựng cơ bản 60,1%); chi trả nợ và viện trợ 68,1%; chi thường xuyên 67,4% (Chi sự nghiệp kinh tế 71%; chi quản lý hành chính 68,5%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 68%; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề 66,6%; chi y tế 66,2%); riêng chi cải cách tiền lương mới đạt 52,3%. Bội chi ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2006 bằng 63,9% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó 72% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 28% vay nước ngoài.

6. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng 8/2006 có 29,4 nghìn hộ với 140,4 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,3% tổng số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. So với tháng trước, số hộ thiếu đói tăng 8%  và số nhân khẩu thiếu đói tăng 6,5%; tuy nhiên so với cùng kỳ năm 2005 thì số hộ thiếu đói đã giảm 27,7% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 28,3%. Để hỗ trợ các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức và cá nhân đã trợ giúp 5,9 nghìn tấn lương thực và trên 7 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh:

Trong tháng 8/2006 có 8,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 6,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và gần 700 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút. Như vậy, tính từ đầu năm đến nay, cả nước có 42,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét (6 trường hợp tử vong), giảm 14,6% so với 8 tháng năm 2005; 32,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (33 trường hợp tử vong), tăng 62,9% và hơn 4,1 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút (3 trường hợp tử vong), tăng 26,6%. Cũng trong 8 tháng năm nay đã có 1041 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu, trong đó 19 trường hợp đã tử vong.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 8/2006 đã phát hiện thêm 941 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 20/8/2006 lên 111,4 nghìn người, trong đó 18,9 nghìn bệnh nhân AIDS và gần 11 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng 8/2006 đã xảy ra 6 vụ ngộ độc thực phẩm tại Khánh Hòa, Bắc Giang, Đồng Nai, Phú Yên và Thành phố Hồ Chí Minh, làm 137 trường hợp bị ngộ độc. Như vậy, tính từ đầu năm đến nay trong cả nước đã có 3,9 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 50 người đã  tử vong.

Tai nạn giao thông

Trong tháng 7/2006 (từ 22/6 đến 21/7) trong cả nước đã xảy ra 1085 vụ tai nạn giao thông, làm chết 928 người và bị thương 773 người. So với tháng 6/2006, tai nạn giao thông đã giảm cả về số vụ và mức độ thiệt hại về người: Số vụ tai nạn giảm 2,5%; số người chết giảm 0,5% và số người bị thương giảm 4,7%. So với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông giảm 55 vụ; số bị chết tăng 39 người và số bị thương giảm 177 người.

Tính chung 7 tháng năm 2006, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 8,7 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 7,4 nghìn người và bị thương 6,7 nghìn người. So với 7 tháng năm 2005, số vụ tai nạn giảm 2,9%; số người bị thương giảm 13,9%; riêng số người chết tăng 8,3%. Bình quân một ngày trong 7 tháng năm nay xảy ra 41 vụ tai nạn, làm chết 35 người và làm bị thương 32 người.

Thiệt hại do lụt bão

Từ cuối tháng 7 đến 19/8/2006 đã xảy ra hiện tượng bão, mưa to, lũ, lốc, sạt lở đất và sét đánh tại một số địa phương. Đặc biệt tình hình mưa lũ và sạt lở đất tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung và Tây nguyên đã gây thiệt hại về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, có trên 30 người chết và 19 người bị thương; 250 nghìn m3 đất đê bị sạt lở, cuốn trôi; trên 61 nghìn ha lúa, hoa màu bị ngập, hư hại, trong đó 11,3 nghìn ha lúa bị mất trắng; 2,5 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hại; nhiều nhà cửa bị sụp đổ, cuốn trôi và hàng vạn nhà bị ngập nước. Giá trị thiệt hại ước tính trên 160 tỷ đồng.

 
In bài
Các tin khác
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình Kinh tế-Xã hội quý I năm 2006 : Báo cáo tình hình Kinh tế-Xã hội quý I năm 2006
Báo cáo tình hình Kinh tế-Xã hội tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2006: Báo cáo tình hình Kinh tế-Xã hội tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2006
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 01 năm 2006: Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 01 năm 2006
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.