Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2003

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2003
16/08/2010 09:10:00

TÌNH HÌNH KINH TẾ -XÃ HỘI THÁNG 10 VÀ 10 THÁNG NĂM 2003
    Trong tháng 10, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương đã tập trung thực hiện nhiều biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển thị trường nội địa, đặc biệt là tiêu thụ các mặt hàng đang gặp khó khăn về thị trường như cá basa, cá tra, hàng dệt may và nhiều mặt hàng nông sản và công nghiệp tiêu dùng khác... Các hoạt động xã hội vào dịp cuối năm cũng trở lên nhộn nhịp hơn, nhất là các hoạt động phục vụ SEA Games 22. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 tiếp tục chuyển biến tích cực.
    Dưới đây là một số nét chủ yếu về tình hình kinh tế xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2003 và một số vấn đề cần tập trung chỉ đạo thực hiện trong 2 tháng còn lại của năm 2003:
    1. Các hoạt động kinh tế
    1.1. Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp tiếp tục xu hướng tăng nhanh, nhất là khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh
    Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 ước tăng 2,2% so với tháng trước (tháng 9 chỉ tăng 1,6% so với tháng 8 và tháng 8 chỉ tăng 1% so với tháng 7), trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 2,6%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 3,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,2%.
    Một số nét nổi bật của sản xuất công nghiệp trong tháng 10 là sản lượng than khai thác tiếp tục tăng mạnh (tăng 13,9% so với tháng 9) do thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng và nhu cầu trong nước tăng lên. Một số sản phẩm tiêu dùng chủ yếu như quần áo dệt kim, quần áo may sẵn, vải lụa thành phẩm, giấy, thuốc ống, thuốc viên, bột ngọt, đường mật các loại, tivi... đều tăng khá so với tháng 9 (khoảng 2-4%) do chính sách kích cầu tiêu dùng và phát triển thị trường trong nước của Nhà nước làm cho nhu cầu tiêu thụ tăng lên. Đặc biệt, tiến độ thực hiện các công trình xây dựng vào những tháng cuối năm đã được đẩy nhanh làm cho nhu cầu vật liệu xây dựng tăng lên, kéo theo sản xuất xi măng, gạch xây, sứ vệ sinh, gạch lát, thép cán đều tăng nhanh (khoảng 5-15%). Riêng sản lượng xe máy các loại sau khi tăng mạnh trong tháng 9 đã giảm trong tháng 10 (giảm 3,6%).
    Tính chung 10 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp tăng khoảng 16% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước tăng 14,2%), trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 12,2% (trung ương tăng 12,6%, địa phương tăng 11,4%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,7%.
    Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có tốc độ tăng cao trong 10 tháng so với cùng kỳ là than sạch khai thác tăng 18,7%, thủy sản chế biến tăng 18,1%, sứ vệ sinh 44,9%, quạt điện dân dụng 43%, bột ngọt 21%, đường mật các loại 45,7%, quần áo dệt kim 34,8%, quần áo may sẵn 46,1%, động cơ diezen 69%, động cơ điện 16,8%, tivi các loại 30,6%, ô tô các loại 37,3%.
    Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có tốc độ tăng khá mặc dù vẫn thấp hơn tốc độ bình quân chung của toàn ngành công nghiệp là điện tăng 14,9%, thép cán tăng 13,9%, thuốc lá bao 14%, giấy bìa các loại 11,9%, xi măng 15,8%, ắc quy 7,9%, phân hóa học 9,7%, gạch xây 12,1%, gạch lát 12,3%, bia 15,5%, sữa hộp 14,9%, xe máy các loại 12,3%.
    Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có tốc độ tăng chậm hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là dầu thô khai thác chỉ tăng 3,7%, vải lụa thành phẩm tăng 6,9%, xà phòng các loại tăng 4,9%, xút NaOH tăng 1,6%, thuốc trừ sâu tăng 0,5%, thuốc viên các loại giảm 0,4%, thuốc ống các loại giảm 15,8%, máy công cụ giảm 7,4%, máy biến thế giảm 0,9%, xe đạp hoàn chỉnh giảm 30,1.
    Nhìn chung, giá trị sản xuất công nghiệp tại các địa phương trong 10 tháng đều tăng khá so với cùng kỳ, như Hà Nội tăng 27,2%, Đà Nẵng 22,6%, Bình Dương 35,5%, Đồng Nai 18,4%, Vĩnh Phúc 37,9%, Thanh Hóa 17,4%, Khánh Hòa 20,3%, Cần Thơ 20,9%, Hà Tây 18,6%, Hải Dương 17,8%, Hải Phòng 17,2%, thành phố Hồ Chí Minh tăng 14,9%.
    Tuy nhiên, vẫn có một số địa phương có quy mô và tỷ trọng sản xuất công nghiệp lớn nhưng tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp 10 tháng thấp so với trung bình cả nước, như Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 6,1%, Quảng Ninh tăng 12,9%.
    1.2. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, nuôi trồng thủy sản tăng trưởng nhanh mặc dù thời tiết không thuận
    Đến ngày 15/10/2003, các địa phương phía Bắc đã thu hoạch được 752 nghìn ha lúa mùa, bằng 60,6% diện tích gieo cấy và tăng 7,1% so với cùng kỳ. Song song với thu hoạch lúa mùa, các địa phương đã gieo trồng được 311 nghìn ha cây vụ đông, trong đó diện tích ngô chiếm 47% và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Do thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, diện tích cây đậu tương và cây rau, đậu các loại đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng lần lượt là 25,4% và 10,7%), diện tích cây khoai lang giảm mạnh, chỉ bằng 68,1% so với cùng kỳ.
    Các địa phương phía Nam tiếp tục thu hoạch lúa hè thu và gieo cấy lúa mùa đồng thời triển khai sản xuất lúa đông xuân sớm. Đến ngày 15/10/2003, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 2.086 nghìn ha lúa hè thu, bằng 94,8% diện tích gieo cấy, trong đó các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch được 1.793 nghìn ha. Theo đánh giá sơ bộ, lúa hè thu năm nay cho năng suất khá; hầu hết các địa phương đều có năng suất cao hơn hoặc bằng năm trước. Năng suất trung bình đạt 40 tạ/ha; sản lượng ước đạt 8,3 triệu tấn, trong đó riêng sản lượng thu hoạch tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt trên 7,8 triệu tấn. Cùng với thu hoạch lúa hè thu, các địa phương đã tranh thủ thời tiết thuận lợi gieo cấy được 761 nghìn ha lúa mùa và 117 nghìn ha lúa đông xuân sớm.
    Nuôi trồng thủy sản trong tháng 10 tiếp tục phát triển nhanh; phong trào nuôi tôm, đặc biệt là nuôi tôm hùm lồng, đang phát triển mạnh tại một số địa phương. Nuôi trồng thủy sản ven biển diễn ra thuận lợi. Tuy nhiên, sản lượng thủy sản giảm nhẹ tại một số tỉnh phía Bắc do áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn kéo dài, tại một số tỉnh phía Nam do lũ về muộn và thấp hơn so với nhiều năm. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 10 ước đạt 100 nghìn tấn; tính chung 10 tháng đạt 913 nghìn tấn, bằng 83,8% kế hoạch năm và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước.
    Khai thác hải sản tháng 10 chỉ đạt 105 nghìn tấn do nhiều tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới; tính chung 10 tháng đạt gần 1.273 triệu tấn, bằng 90,9% kế hoạch năm và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước.
    Tổng sản lượng thủy sản tháng 10 ước đạt 205 nghìn tấn; tính chung 10 tháng ước đạt 2.186 nghìn tấn, bằng 87,8% kế hoạch năm và tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2002.
    Trong tháng 10, thiên tai đã xảy ra tại một số địa phương gây ảnh hưởng bất lợi tới sản xuất nông nghiệp. Riêng tại các tỉnh miền Trung từ ngày 14 đến 20/10, áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn kéo dài kết hợp với triều cường đã làm ngập 11,9 nghìn ha lúa mùa, làm đổ hơn 1,7 nghìn ha mía và làm hư hỏng hơn 7 nghìn ha hoa màu; nhiều công trình thủy lợi, nhà ở và phương tiện giao thông và đường sá bị thiệt hại nặng nề; tổng thiệt hại lên tới gần 240 tỷ đồng. Các tỉnh phía Bắc trong tháng 10 không có lũ lụt trên diện rộng, nhưng mưa lớn đã gây ra ngập úng tại một số địa phương. Riêng tỉnh Thái Bình, tổng diện tích lúa mùa bị ngập úng ước khoảng 57 nghìn ha, trong đó ngập úng nặng khoảng 23 nghìn ha, mất trắng 16 nghìn ha; năng suất lúa bình quân giảm 30-40% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, do ảnh hưởng nặng nề của lũ và mưa to trong các tháng 9 và 10, sản lượng lương thực vùng đồng bằng sông Hồng đã bị thiệt hại đáng kể.
    1.3. Khu vực dịch vụ đang từng bước lấy lại đà tăng trưởng; thị trường nội địa phát triển nhanh; hiện tượng ứ đọng hàng hóa không tiêu thụ được đã giảm mạnh
    Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 10 ước đạt 26,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng 9; tính chung 10 tháng đạt khoảng 254 nghìn tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ (9 tháng chỉ tăng 11,2%, 8 tháng chỉ tăng 10,5% so với cùng kỳ), trong đó khu vực kinh tế nhà nước đạt 42,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,8% tổng mức bán lẻ hàng hóa; kinh tế tập thể đạt 2,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9%; kinh tế cá thể đạt 163,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 64,5%; kinh tế tư nhân đạt 40,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 16%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,8%. Như vậy, tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ngày càng cao, đồng thời cơ cấu tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân.
    Tính đến hết tháng 10, lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT-AFTA đã thực hiện được 4 tháng. Một số lớn mặt hàng đã được giảm thuế nhập khẩu, nhưng nhìn chung thị trường vẫn ổn định. Thị trường dược, phân bón sau khi có một số biến động trong tháng 9 đã ổn định trở lại trong tháng 10.
    Chính sách kích cầu và phát triển mạnh thị trường trong nước của Chính phủ được thực hiện trong những tháng gần đây đã có tác động tích cực tới thị trường, làm cho tốc độ tiêu thụ nhiều loại hàng hóa được đẩy nhanh, nhất là đối với cá basa, cá tra, hàng dệt may và nhiều mặt hàng nông sản và công nghiệp tiêu dùng khác. Hiện tượng ứ đọng hàng hóa không tiêu thụ được đã giảm mạnh.
    Trong tháng 10, các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường tiếp tục tăng cường kiểm tra các mặt hàng lưu thông trên thị trường, tập trung vào việc giám sát thực hiện quy định niêm yết giá, chống gian lận thương mại, chống buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng và hàng nhập lậu. Bên cạnh đó, các cơ quan đã bước đầu triển khai thực hiện chủ trương kiểm tra hoá đơn, chứng từ đối với hàng hóa trong khâu vận chuyển. Tuy nhiên, cùng với sự tăng lên của tiêu dùng xã hội vào dịp cuối năm, hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại vẫn tiếp tục xu hướng gia tăng và ngày càng phức tạp. Trong nửa đầu tháng 10, cơ quan quản lý nhà nước đã xử lý 3.212 vụ vi phạm quy định thương mại, trong đó số vụ buôn bán hàng cấm và hàng nhập lậu chiếm gần một nửa (1.510 vụ).
    Hoạt động du lịch trong tháng 10 nhìn chung khá sôi động. Các lễ hội lớn như Lễ hội du lịch đồng bằng sông Cửu Long, Lễ hội kỷ niệm 100 năm du lịch Sa Pa, các hoạt động tăng cường vào dịp cuối năm trong Năm du lịch Hạ Long... đã được tổ chức mang đậm bản sắc dân tộc, nhờ đó đã thu hút được đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế.
    Lượng khách quốc tế đến Việt Nam tiếp tục tăng mạnh trong những tháng gần đây. Riêng trong tháng 10, ngành du lịch đã đón được 200 nghìn khách quốc tế, tăng 10,4% so với mức trung bình 9 tháng. Tính chung 10 tháng, số khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,83 triệu lượt người, bằng 84,2% so với cùng kỳ. Số khách nội địa 10 tháng ước đạt 10,4 triệu lượt người. Doanh thu du lịch toàn xã hội 10 tháng ước đạt 17.400 tỷ đồng, bằng 88,7% so với cùng kỳ.
    Hoạt động vận tải hàng hóa và hành khách trong tháng 10 tiếp tục xu thế phục hồi đã hình thành trong những tháng gần đây. Tuy nhiên, tốc độ phục hồi trong tháng 10 có dấu hiệu chậm lại. Tính chung trong 10 tháng, vận tải hàng hóa tăng 6,6% về tấn và 4,2% về tấn-km so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách tương ứng tăng 4,3% về lượt hành khách và 3,2% về lượt hành khách-km.
    1.4. Kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng cao; nhập siêu có xu hướng giảm dần
    Cơ cấu thị trường xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch mạnh. Thị trường Hoa Kỳ đã vững chắc, trở thành khách hàng lớn nhất của nước ta với trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi thị trường EU chỉ còn chiếm 19%, thị trường Nhật Bản 13%... Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 ước đạt khoảng 1,62 tỷ USD, xấp xỉ bằng mức trung bình của 9 tháng và tăng 2,2% so với tháng 9, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu đạt 810 triệu USD, tăng 1,1% so với tháng 9.
    Tính chung 10 tháng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 16,55 tỷ USD, bằng 93% kế hoạch năm và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 8,3 tỷ USD, bằng 102% kế hoạch năm và tăng 32,1% so với cùng kỳ năm trước.
    Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu có mức tăng trưởng về kim ngạch cao trong 10 tháng so với cùng kỳ là dệt may tăng 45%, giầy dép 22,6%, dây điện và cáp điện 57,4%, sản phẩm gỗ 37,2%, hàng điện tử 42,9%, máy vi tính và linh kiện 34,3%, xe đạp và phụ tùng xe đạp 33%, hạt điều 28,7%, sản phẩm nhựa 17,3%. Các mặt hàng có mức tăng về lượng cao so với cùng kỳ là than đá tăng 14,8%, gạo 19,7%.
    Các mặt hàng có khối lượng hoặc kim ngạch xuất khẩu tăng chậm là thủy sản tăng 10% (về kim ngạch), hàng thủ công mỹ nghệ tăng 6,3% (về kim ngạch), dầu thô tăng 2,8% (về lượng).
    Các mặt hàng có khối lượng hoặc kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ chủ yếu là nông sản, như về lượng, lạc nhân giảm 19,2%, chè giảm 25,6%, cà phê giảm 9,6%, cao su giảm 4,8%; về kim ngạch, hàng rau quả giảm 29,2%, hạt tiêu giảm 11%.
    Kim ngạch nhập khẩu tháng 10 ước đạt 1,92 tỷ USD, giảm mạnh so với tháng 9 (giảm tới 7,6%), trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 720 triệu USD, giảm 0,8% so với tháng 9.
    Tính chung trong 10 tháng, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 20,3 tỷ USD, bằng 99,1% kế hoạch năm và tăng 29,5% so cùng kỳ năm 2002; trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 7.073 triệu USD, bằng 100,8% kế hoạch năm và tăng 32,5% so với cùng kỳ năm 2002.
    Các mặt hàng chủ yếu có kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh trong 10 tháng là linh kiện và phụ tùng ô tô tăng 52,1%; máy vi tính và linh kiện 102,8%; vải các loại 36,2%; tân dược 16,2%; máy móc thiết bị 48,1%; nguyên liệu dệt may da 21,5%; hóa chất 29,1%, giấy các loại 27,6%, linh kiện điện tử 13,9%.
    Các mặt hàng có khối lượng nhập khẩu giảm so với cùng kỳ là ô tô nguyên chiếc giảm 22,9%, xăng dầu giảm 0,8%, thép các loại giảm 6,4% (riêng phôi thép giảm 11,3%), bông các loại giảm 12%, sợi các loại giảm 19,5%. Kim ngạch nhập khẩu linh kiện xe máy giảm 12,6%.
    Nhập siêu 10 tháng khoảng 3,77 tỷ USD, bằng 22,8% kim ngạch xuất khẩu. Đáng chú ý là mức nhập siêu trong tháng 10 vẫn khá cao (300 triệu USD), tuy chỉ bằng 78% mức nhập siêu trung bình của 9 tháng.
    1.5. Huy động và thực hiện vốn đầu tư phát triển tiếp tục tăng khá; nhiều công trình được đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình trọng điểm, các công trình phục vụ SEA Games 22
    Đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tập trung đạt 93% kế hoạch năm, trong đó các Bộ, ngành, trung ương đạt 101,9% kế hoạch năm; các địa phương đạt 83% kế hoạch năm.
    Một số Bộ, ngành, trung ương thực hiện vốn đầu tư trong 10 tháng cao: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (103%), Bộ Giao thông Vận tải (109,5%), Bộ Thủy sản (84,8%), Bộ Giáo dục và Đào tạo (81,8%), Bộ Y tế (86,4%). Tiến độ thực hiện kế hoạch năm của các Bộ Văn hóa và Thông tin, Bộ Công nghiệp thấp, đến hết tháng 10 mới đạt khoảng 72% kế hoạch năm; riêng Bộ Xây dựng thực hiện kế hoạch năm rất thấp, chỉ đạt 50,6%.
    Tính đến hết tháng 10, có khoảng 60% số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách tập trung đạt khá so với kế hoạch năm; điển hình là Lạng Sơn, Yên Bái, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Bình Thuận, Tiền Giang, Bến Tre và An Giang...
    Giải ngân ODA trong 10 tháng ước đạt khoảng 1.130 triệu USD, bằng 66% kế hoạch năm, là năm có mức giải ngân thấp nhất trong giai đoạn gần đây; trong đó vốn vay đạt khoảng 993 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại đạt khoảng 137 triệu USD.
    Từ đầu năm đến ngày 17/10/2003, nguồn vốn ODA được hợp thức hóa bằng việc ký kết các Hiệp định với các nhà tài trợ đạt 1.634 triệu USD, trong đó vốn vay đạt 1.255 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt 379 triệu USD.
    Trong tháng 10, có thêm 16 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký là 48,8 triệu USD. Tính chung 10 tháng, cả nước có 504 dự án được cấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 1.278 triệu USD, giảm 19,5% về số dự án và giảm 7,5% về vốn đầu tư so với cùng kỳ 2002.
    Trong tháng 10, có 19 lượt dự án tăng vốn với tổng số vốn tăng thêm là 76,2 triệu USD; tính chung 10 tháng, có 303 lượt dự án tăng vốn với tổng số vốn tăng thêm là 833 triệu USD, tăng 5,9% về số dự án và tăng 2,5% về vốn so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, kể cả đăng ký mới và tăng vốn, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 2.111 triệu USD.
    Trong tháng 10, 200 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được đưa vào thực hiện; tính chung 10 tháng, khoảng 2.250 triệu USD đã được đưa vào thực hiện, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2002.
    Hoạt động kinh doanh của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong 10 tháng năm 2003 duy trì nhịp độ phát triển khá. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu của các doanh nghiệp thuộc khu vực này tăng 43,8%; kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng trên 32%; nộp ngân sách 10 tháng đạt 420 triệu USD, tăng 17,3%. Đến nay, khu vực này đang tạo ra việc làm cho 652 nghìn lao động, tăng 39,6% so với cùng kỳ năm trước.
    Thu ngân sách nhà nước tiếp tục tăng trưởng khá, bảo đảm được các khoản chi; hoạt động tiền tệ và lãi suất ngày càng phù hợp với hoạt động kinh tế và xã hội; giá cả thị trường tiếp tục ổn định
    Thu ngân sách nhà nước lũy kế đến ngày 15 tháng 10 đạt 83,4% dự toán năm, trong đó, thu nội địa (không kể dầu thô) đạt 81,6% dự toán năm; thu từ dầu thô đạt 98,3% dự toán năm; thu từ xuất nhập khẩu đạt 76,6% dự toán năm.
    Thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 73,1% dự toán năm; thu doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 86,5% dự toán năm; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 84,8% dự toán năm; thu phí và lệ phí đạt 78% dự toán năm.
    Chi ngân sách nhà nước lũy kế đến ngày 15 tháng 10 đạt 77,5% dự toán năm; trong đó chi đầu tư phát triển đạt 74,9% dự toán năm; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội đạt 80% dự toán năm; chi trả nợ và viện trợ đạt 83,8% dự toán năm.
    Trong tháng 10, lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với VNĐ được duy trì ở mức tháng 9 (0,625%/tháng hay 7,5%/năm). Lãi suất huy động và cho vay bằng VNĐ của các ngân hàng thương mại quốc doanh ổn định nhưng lãi suất huy động bằng VNĐ của các ngân hàng thương mại cổ phần tiếp tục xu thế giảm trong khi lãi suất cho vay ổn định ở mức cao. Lãi suất huy động và cho vay bằng USD của hệ thống các ngân hàng thương mại tiếp tục ổn định.
    Giá cả thị trường trong tháng 10 tiếp tục ổn định; chỉ số giá tiêu dùng ước giảm 0,2% so với tháng 9. Đáng chú ý là việc giảm giá chỉ xảy ra đối với 2 nhóm hàng là thực phẩm (giảm 0,3%) và phương tiện đi lại, bưu điện (giảm 3,3%), trong đó giá nhóm hàng phương tiện đi lại, bưu điện giảm do giá xe Honđa giảm rất mạnh. Giá tất cả các nhóm hàng khác đều ổn định; trừ giá nhóm hàng dược phẩm, y tế tăng 2% và giá nhóm hàng giáo dục tăng 1,1%. Chỉ số giá vàng trong tháng 10 tăng 3,4% do giá vàng thế giới tiếp tục tăng.
    Tính chung trong 10 tháng, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,6% so với tháng 12/2002 (cùng kỳ tăng 3,4%), trong đó các nhóm hàng có chỉ số giá tăng cao hơn mức trung bình là thực phẩm (1,7%), đồ uống và thuốc lá (2,6%), may mặc, mũ nón và giày dép (2,4%), nhà ở và vật liệu xây dựng (3%), giáo dục (4,4%) và đặc biệt là dược phẩm, y tế (19,7%). Có 3 nhóm hàng có chỉ số giá tiêu dùng giảm là lương thực (giảm 1,8%), phương tiện đi lại, bưu điện (giảm 1,7%), và văn hóa, thể thao, giải trí (giảm 1,1%). Chỉ số giá vàng tăng 17%; chỉ số giá đô la tăng 1,2%.
    2. Các hoạt động trong lĩnh vực xã hội
    2.1. Giáo dục, đào tạo
    Trong tháng 10, ngành giáo dục đã bước đầu tiến hành tổng kết, đánh giá công tác thi cử và tuyển sinh năm học 2003-2004. Đến nay, các trường đại học và cao đẳng đã hoàn thành xong việc xét tuyển nguyện vọng 3, đã triệu tập học sinh trúng tuyển và tổ chức khai giảng năm học mới.
    Sau hơn một tháng khai giảng năm học mới, công tác giáo dục tại các địa phương đến nay đã cơ bản đi vào nền nếp. Việc giảng dạy theo chương trình và sách giáo khoa mới ở lớp 2 và lớp 7 được thực hiện thuận lợi, bước đầu đảm bảo các yêu cầu về chất lượng. Các địa phương đã cung cấp đủ sách giáo khoa, sách cho giáo viên, đáp ứng cơ bản sách tham khảo và thiết bị phục vụ cho các trường, trong đó đã chú trọng ưu tiên cho các trường ở vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
    Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Thủ tướng Chính phủ phương án phân bổ nguồn vốn công trái giáo dục cho chương trình kiên cố hóa trường học đợt 2 (gần 1.700 tỷ đồng). Các địa phương tiếp tục triển khai thực hiện vốn kiên cố hóa trường học đợt 1, tiến độ triển khai đã được đẩy nhanh hơn. Nhiều địa phương đã hoàn thành công tác chuẩn bị để có thể khởi công ngay số lượng lớn các công trình khi mùa khô bắt đầu. Một số địa phương đã khánh thành, đưa vào sử dụng các phòng học mới, bước đầu giảm số phòng học tạm, học ca ba, điển hình là Hà Giang, Lạng Sơn, Yên Bái, Tuyên Quang...
    2.2. Khoa học và công nghệ
    Trong tháng 10, ngành khoa học và công nghệ tiếp tục tập trung hoàn thiện đề án về "Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến 2010" trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức của các sở Khoa học và Công nghệ để giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ ở địa phương.
    Trong tháng 10, ngành khoa học và công nghệ đã tổ chức thành công Hội chợ Công nghệ và thiết bị toàn quốc lần thứ nhất (Techmart 2003). Đã có khoảng 400 gian hàng trưng bày, chào bán hơn 2000 công nghệ và thiết bị tiên tiến, trong đó khoảng 95% loại công nghệ và thiết bị được nghiên cứu, chế tạo trong nước. Hội chợ có sự tham gia của hơn 300 đơn vị trong nước đại diện cho tất cả các thành phần kinh tế và 34 đơn vị nước ngoài đến từ Mỹ, Đức, Hàn Quốc, Xingapo, Ấn Độ, Rumani... Trong thời gian hội chợ, đã có 676 hợp đồng và biên bản ghi nhớ được ký kết, trong đó có 334 hợp đồng mua bán công nghệ, thiết bị với tổng giá trị trên 1.000 tỷ đồng. Ban tổ chức hội chợ cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo giới thiệu tiến bộ mới về khoa học và công nghệ, góp phần phát triển thị trường khoa học và công nghệ nước ta. Ngoài hội chợ trên, Hội chợ công nghệ và thiết bị ảo (Techmartvietnam.com.vn) cũng đã được khai trương và đưa vào hoạt động thường xuyên .
    2.3. Công tác dân số, gia đình và trẻ em
    Công tác dân số, gia đình và trẻ em tiếp tục ổn định. Trong 10 tháng, có gần 1,1 triệu trẻ em mới sinh, tăng 2,4% so với cùng kỳ; trong đó số con thứ 3 trở lên khoảng 141 nghìn người, giảm 6% so với cùng kỳ. Một số tỉnh có số sinh tăng cao là Sơn La, Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Bình, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, Vĩnh Long và Trà Vinh.
    Trong những tháng gần đây, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã phối hợp với một số ngành tổ chức điều tra tình trạng trẻ em lang thang tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay, Uỷ ban đã lập hồ sơ lưu trữ, theo dõi và kiến nghị giải pháp giải quyết 1.504 em tại Hà Nội, 7.664 em tại thành phố Hồ Chí Minh. Ủy ban cũng đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức quyên góp quần áo, sách giáo khoa cho trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Ngoài ra, 600 xe lăn cho trẻ em tàn tật cũng đã được quyên góp.
    Trong 10 tháng, 43 tỉnh, thành phố đã tích cực triển khai thực hiện Dự án Tăng cường dịch vụ sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình bằng nguồn vốn ngân sách. Đến nay, dự án đã được triển khai ở 2.628 xã, vượt 14% so với kế hoạch (2.306 xã). Nhiều địa phương đã chú trọng ưu tiên thực hiện trước đối với các xã nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo.
    2.4. Giải quyết việc làm: các địa phương tiếp tục phát triển hình thức hội chợ việc làm để tạo thêm việc làm mới cho người lao động
    Đến cuối tháng 10, 15 tỉnh, thành phố đã tổ chức được 20 hội chợ việc làm; mỗi hội chợ thu hút bình quân 12-14 nghìn lượt người đến đăng ký tìm việc làm, gần 3 nghìn người đăng ký học nghề và khoảng 2 nghìn lao động được tuyển dụng. Tính chung, trong 10 tháng, có 1,2 triệu lượt người đã được giải quyết việc làm, trong đó Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm đã giải quyết việc làm cho trên 22 vạn lao động.
    Xuất khẩu lao động: Trong tháng 10, gần 7,4 nghìn người đã được đưa đi làm việc ở nước ngoài. Tính chung 10 tháng, khoảng 60,4 nghìn người đã được đưa đi làm việc ở nước ngoài, chủ yếu sang các thị trường Đài Loan (19,7 nghìn người), Malaixia (34 nghìn người), Nhật Bản (1,9 nghìn người), Hàn Quốc (4,2 nghìn người). Ngoài ra, còn có khoảng 5.000 người trong diện thực hiện 460 hợp đồng của các công ty đã trình thẩm định để đưa đi xuất khẩu lao động trong 1-2 tuần tới. Các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá lao động và chuyên gia Việt Nam tiếp tục được tăng cường nhằm ổn định và mở rộng thị trường cũ và phát triển thêm một số thị trường mới.
    2.5. Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
    Trong các tháng 9 và 10, công tác phòng chống bệnh dịch sau thiên tai đã được đẩy mạnh. Bộ Y tế đã kịp thời cung cấp đủ thuốc men và các thiết bị chủ yếu cho các vùng chịu ảnh hưởng, nhất là các vùng ngập lũ. Nhờ vậy, các loại dịch bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, tiêu chảy, dịch hạch và thương hàn đã không xảy ra. Các tỉnh miền Trung và Nam Bộ tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch chống sốt rét đợt 2 năm 2003. Trong tháng 10, Bộ Y tế đã phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới tổ chức thành công Hội nghị phòng chống bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS).
    Trong tháng 10, đã phát hiện thêm 1.450 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV cả nước lên 71,5 nghìn người, trong đó có 10,9 nghìn bệnh nhân AIDS. Đến nay, cả nước đã có 6,1 nghìn người đã tử vong vì AIDS.
    2.6. Công tác bảo trợ xã hội
    Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương làm tốt công tác cứu trợ đột xuất cho các địa phương bị thiệt hại do thiên tai lũ lụt. Các địa phương đã hỗ trợ nhu yếu phẩm và tiền cho các gia đình có người chết, người bị thương, nhà sập, đảm bảo không để người dân bị đói; sau các đợt lũ lớn, đã kịp thời hỗ trợ sửa chữa, xây mới nhà cửa để người dân sớm ổn định cuộc sống. Một số Bộ, ngành, địa phương đã phát động phong trào quyên góp ủng hộ đồng bào bị thiên tai một các thiết thực và kịp thời theo đúng truyền thống "lá lành đùm lá rách" của dân tộc.
    2.7. Phát thanh truyền hình
    Công tác phát thanh truyền hình tháng 10 tiếp tục tập trung vào việc tuyên truyền quảng bá cho SEA Games 22 và tuyên truyền về luật lệ giao thông. Bên cạnh đó, các phương tiện thông tin đại chúng đã dành nhiều thời lượng phát thanh, phát hình và trang báo đưa tin về tình hình thiên tai trong cả nước và phong trào ủng hộ người dân vùng lũ lụt. Thông tin về các hoạt động đối ngoại được tăng cường nhân dịp diễn ra các hội nghị thượng đỉnh ASEAN, APEC... Những ngày gần đây, công tác phát thanh truyền hình và báo chí tập trung đưa tin về kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XI.
    2.8. Thể dục thể thao
    Công tác chuẩn bị cho SEA Games 22 đang diễn ra một cách khẩn trương. Đến nay, trên toàn quốc đã hoàn thành phần lớn các công trình thi đấu phục vụ SEA Games; nhiệm vụ chủ yếu cuối cùng cần làm là hoàn thiện hệ thống giao thông quốc gia và giao thông của Hà Nội đi vào Khu liên hợp thể thao quốc gia và các điểm thi đấu tại Hà Nội. Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ SEA Games của Hà Nội đang được đẩy nhanh; đến nay đã cơ bản giải phóng được mặt bằng và đưa vào thi công các tuyến đường dẫn vào các điểm thi đấu, trong đó có tuyến Đội Cấn - Hồ Tây dẫn vào Cung thể thao Quần ngựa, tuyến dẫn vào Sân vận động Quốc gia. Dự kiến tiến độ thi công các công trình thi đấu, công trình giao thông và các công trình phụ trợ khác sẽ được triển khai đúng kế hoạch.
    Kế hoạch tập luyện nhằm duy trì và nâng cao trình độ chuyên môn cho vận động viên tiếp tục được đẩy mạnh; trong tháng 10 đã tổ chức thêm nhiều giải đấu quốc gia và quốc tế tiền SEA Games đồng thời tăng cường đưa vận động viên đi tập huấn và thi đấu ở nước ngoài. Thành tích thi đấu của nhiều môn thể thao nước ta tiếp tục có nhiều tiến bộ.
    2.9. Tình hình trật tự an toàn giao thông
    Công tác trật tự an toàn giao thông tiếp tục được đẩy mạnh trong phạm vi cả nước. Trong tháng 10, các Bộ, ngành địa phương đã kết hợp tốt việc tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục ý thức giữ gìn trật tự an toàn giao thông với việc kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm luật lệ giao thông. Ban An toàn giao thông các cấp được củng cố và kiện toàn thêm một bước. Hoạt động của mạng lưới xe buýt tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục được cải thiện. Nhờ những biện pháp trên, tình hình trật tự an toàn giao thông trên toàn quốc tiếp tục có nhiều chuyển biến rất tích cực. Tại phần lớn các địa phương, tai nạn giao thông đã được kiềm chế. Tình trạng ùn tắc giao thông trên toàn quốc, đặc biệt là tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, đã được cải thiện rõ rệt. Các tuyến phố tại các thành phố lớn được sắp xếp gọn gàng hơn; hầu như không xảy ra ùn tắc giao thông kéo dài.
    Tình trạng tai nạn giao thông trong tháng 9 tiếp tục giảm toàn diện so với tháng 8. Tính chung đến cuối tháng 9/2003, trên cả nước đã xảy ra 15.848 vụ tai nạn giao thông, làm 8.784 người chết và 16.186 người bị thương; so với cùng kỳ năm 2002 đã giảm được 26% số vụ tai nạn giao thông, 8,4% số người chết và 32,5% số người bị thương.
    Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng tiếp tục xu hướng phát triển tích cực. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng ngày càng nhanh, nhất là khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển mặc dù một số địa phương gặp nhiều khó khăn do thiên tai. Khu vực dịch vụ đang từng bước lấy lại đà tăng trưởng; thị trường nội địa phát triển nhanh; hiện tượng ứ đọng hàng hóa không tiêu thụ được đã giảm mạnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng tiếp tục tăng trưởng nhanh. Thực hiện vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách tăng khá. Thu ngân sách nhà nước đạt khá, bảo đảm được các khoản chi. Hoạt động tiền tệ và lãi suất ngày càng phù hợp với hoạt động kinh tế và xã hội. Giá cả thị trường cơ bản ổn định. Các hoạt động xã hội tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực.
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
In bài
Các tin khác
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2003
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2003
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2003
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2003
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2003
Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội quý I năm 2003
Về đầu trang        
    Trang chủ Báo điện tử Chính phủ Trang Đa phương tiện Giới thiệu Cổng TTĐT Chính phủSơ đồ Cổng thông tin Liên hệEnglish中文 
© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Tổng Giám đốc: Nguyễn Hồng Sâm
Trụ sở: 16 Lê Hồng Phong - Ba Đình - Hà Nội.
Điện thoại: Văn phòng: 080 43162; Fax: 080.48924; Email: thongtinchinhphu@chinhphu.vn.
Bản quyền thuộc Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Chính phủ' hoặc 'www.chinhphu.vn' khi phát hành lại thông tin từ các nguồn này.