Tình hình thực hiện phát triển kinh tế-xã hội năm 2005

Báo cáo tình hình Kinh tế - Xã hội tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2005
02/08/2010 16:03:00

tình hình kinh tẾ - xã hỘi tháng 02 VÀ

HAI tháng đẦu năm 2005

(Tóm tắt báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 2 - 2005)

    Với quyết tâm thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2005, các Bộ, ngành, địa phương đã khẩn trương triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/2005/NQ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2005 về các giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2005 của Chính phủ.
    Trong tháng 2 có Tết Nguyên đán, số ngày sản xuất ít hơn, tuy nhiên ngay từ mùng 2 tết, người lao động tại các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất cả nước đã hăng hái thi đua sản xuất, vì vậy sản xuất kinh doanh trong tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2005 tiếp tục phát triển.
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Về sản xuất, kinh doanh
    (1) Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp tiếp tục đạt mức cao, đặc biệt công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh góp phần giữ tốc độ tăng cao của toàn ngành.
    Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 2 năm 2005 ước đạt 29.261 tỷ đồng, tăng 2% so với tháng 2 năm 2004. Tính chung cả 2 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 65.414 tỷ đồng, cao hơn mức kế hoạch và tăng 16,1% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 15,6%), trong đó khu vực ngoài quốc doanh có mức tăng trưởng cao nhất (tăng 27,2%), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực doanh nghiệp nhà nước đều tăng thấp hơn mức tăng chung của toàn ngành (tương ứng là 13,5% và 10,5%).
    Nhờ có thị trường tiêu thụ và có công nghệ sản xuất tốt, một số sản phẩm đã đạt được tốc độ tăng cao là than sạch khai thác tăng 28,3%, thuỷ sản chế biến tăng 31,7%, ga hoá lỏng tăng 20,1%, sữa hộp tăng 25,2%, bia tăng 24,6%, phân hoá học tăng 52,8%, thuốc viên các loại tăng 19%, sứ vệ sinh tăng 61,6%, xi măng tăng 6,7%, gạch lát tăng 40,9%, máy công cụ tăng 22,9%, động cơ điện tăng 85%, ô tô các loại tăng 37%, xe máy các loại tăng 43,5%.
    Về địa bàn, địa phương đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ gồm: Vĩnh Phúc tăng 37%, Hà Tây tăng gần 24%, Hải Dương tăng 40,6%, Phú Thọ tăng 19,5%, Khánh Hoà tăng 18,8%, Bình Dương tăng 34%, Đồng Nai tăng 18,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 18,4%.
    Bên cạnh kết quả đã đạt được, sản xuất công nghiệp trong hai tháng đầu năm còn một số vấn đề sau:
    Một số sản phẩm chủ lực, đặc biệt là sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn do gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ nên chỉ đạt mức tăng trưởng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ như quần áo may sẵn tăng 13,9%; máy biến thế tăng gần 8%; ắc quy tăng 9%, động cơ diezen giảm gần 12%; vải lụa thành phẩm tăng 2,8%; quần áo dệt kim giảm 7,4% …
    Nhiều sản phẩm vẫn có mức chi phí sản xuất cao nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm gặp khó khăn.
    Một số tỉnh, thành phố lớn có tỷ trọng công nghiệp cao nhưng mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng chung của toàn ngành (Hà Nội tăng 14,4%; Đà Nẵng tăng 15,2%, thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,8%).
    (2) Sản xuất nông nghiệp bảo đảm tiến độ gieo trồng và thu hoạch, tuy nhiên nhiều địa phương đang phải đối mặt với hạn hán gay gắt.
    Trong tháng 2 cả nước tập trung gieo cấy lúa Đông xuân, gieo trồng cây ngắn ngày và rau đậu vụ đông. Tính đến ngày 15 tháng 2, cả nước đã gieo cấy được gần 2.475 nghìn ha lúa Đông Xuân, bằng 103,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh miền Bắc gieo cấy được gần 702 nghìn ha, tăng hơn cùng kỳ năm trước 21,4%; các tỉnh phía Nam đã cơ bản gieo cấy xong lúa đông xuân, đạt gần 1.773 nghìn ha, bằng 98,3% so với cùng kỳ năm 2004. Lúa sinh trưởng và phát triển khá; các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch 384,3 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 26% diện tích gieo cấy. Năng suất thu hoạch ban đầu tương đối khá.
    Cùng với việc gieo cấy và thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương đang tích cực trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày nhưng do đầu vụ thời tiết rét đậm, rét hại đã ảnh hưởng đến tốc độ gieo trồng: diện tích ngô giảm 7%, khoai lang giảm 20,1%, lạc giảm 0,8%, rau đậu các loại giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước.
    Về thuỷ sản: Tổng sản lượng thuỷ sản 2 tháng đầu năm 2005 ước đạt 507 nghìn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó sản lượng khai thác hải sản ước đạt gần 272 nghìn tấn, bằng 15,5% kế hoạch, tăng 0,35% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng và khai thác nội địa ước đạt 235 nghìn tấn, đạt 15% kế hoạch và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.
    Về lâm nghiệp: Hai tháng đầu năm 2005 trồng rừng tập trung ước đạt 32,5 nghìn ha; trồng cây phân tán ước đạt 64 triệu cây; chăm sóc rừng trồng 33,2 nghìn ha; khoanh nuôi tái sinh và trồng dặm 161,2 nghìn ha.
    Hiện nay, ngành nông lâm nghiệp đang phải đối mặt với những khó khăn sau:
    Tình hình hạn hán đang diễn ra khá nặng nề: Các tỉnh phía Bắc đã giảm được hạn hán do có một số trận mưa rào vào đầu tháng 2, tuy nhiên so với trung bình nhiều năm lượng nước vẫn thiếu hụt từ 30-50%, các hồ cạn kiệt hơn. Nước dưỡng cho lúa đông xuân có thể sẽ khó khăn. Các tỉnh Tây nguyên, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ và các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long tình hình thiếu nước, khô hạn diễn ra nghiêm trọng và ngày càng mở rộng gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã yêu cầu các tỉnh bị hạn nặng ưu tiên cân đối nguồn nước của các hồ chứa cho sinh hoạt của người dân và chăn nuôi gia súc, đồng thời lên kế hoạch phòng chống hạn cuối mùa khô cho sinh hoạt và sản xuất trong trường hợp mùa mưa đến muộn. Đối với các tỉnh Tây Nguyên, tập trung bảo đảm đủ nước tưới đợt 3 và 4 cho cà phê và những diện tích cây trồng dự kiến thiếu nước và hạn vào cuối vụ đông xuân.
    Dịch bệnh cúm gia cầm tuy đang dần được khống chế (đến ngày 27 tháng 2 có 15/35 tỉnh có dịch không phát thêm điểm dịch mới sau 21 ngày), song dịch bệnh còn tiềm ẩn, nhiều điểm có nguy cơ bùng phát trở lại.
    Tình trạng vi phạm lâm luật còn tiếp diễn, từ đầu năm đến ngày 20 tháng 2 đã xảy ra 5.660 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 80 vụ cháy rừng làm thiệt hại 136 ha rừng; 194 vụ phá rừng trái phép, 620 vụ khai thác rừng trái phép. Lực lượng kiểm lâm đã xử lý 4.932 vụ, trong đó xử phạt hành chính 4.874 vụ, xử lý hình sự 58 vụ, tịch thu 109 ô tô, máy kéo, 269 xe máy, 3.032 m3 gỗ tròn, 3.082 m3 gỗ xẻ, thu nộp ngân sách trên 16,3 tỷ đồng.
2. Lĩnh vực dịch vụ
    Tháng 2 năm nay trùng với Tết Nguyên đán; thu nhập của các tầng lớp dân cư được cải thiện một bước, nên sức mua của dân cư vào dịp trước và trong Tết tăng khoảng 20 - 30% so với Tết năm trước.
    Các doanh nghiệp sản xuất và thương mại trong nước đã chủ động sản xuất và chuẩn bị nguồn hàng dự trữ từ trước Tết nên cung vẫn đáp ứng đủ nhu cầu. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 2 ước đạt 33,59 nghìn tỷ đồng; tính chung cả hai tháng đạt 70,24 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2003 tăng 10,5%, năm 2004 tăng 16,2%), trong đó kinh tế nhà nước giảm 3%, thành phần kinh tế cá thể tăng gần 18%, kinh tế tư nhân tăng 40%, kinh tế tập thể tăng 19% và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 45%.
    Hoạt động vận tải hàng hoá và hành khách tăng khá, đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân. Vào dịp Tết Nguyên đán, các đơn vị kinh doanh vận tải đã tăng đầu xe, tăng chuyến ở các tuyến tập trung đông khách; các địa phương hợp tác giúp đỡ nhau khi bị quá tải khách xảy ra. Trong 2 tháng đầu năm, khối lượng vận tải hàng hoá ước đạt 42,8 triệu tấn và hơn 8,9 tỷ tấn.km, tăng 5,1% về tấn vận chuyển và 7% về tấn - km so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách đạt gần 159 triệu lượt người và 7,3 tỷ hành khách-km, tăng 6,4% về lượt hành khách và 6,9% về lượt hành khách - km. Chất lượng dịch vụ vận tải đã có nhiều chuyển biến khá, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân.
    Tuy nhiên, ở một số địa phương do số khách đi lại quá đông nên vẫn còn hiện tượng ứ đọng khách; tình trạng tăng giá ngoài quy định, xe khách chở quá lượng khách theo quy định, đón khách tuỳ tiện... vẫn diễn ra nhiều do chưa tăng cường kiểm tra, kiểm soát của lực lượng thanh tra giao thông và cảnh sát giao thông trong dịp Tết.
    Mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển. Trong tháng 2/2005, phát triển mới 250,3 nghìn thuê bao điện thoại nâng tổng số phát triển mới từ đầu năm lên hơn 499 nghìn thuê bao. Tổng số thuê bao trên toàn mạng là 10.904 nghìn máy (trong đó Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam: 10.435 nghìn thuê bao), đạt mật độ 13,2 máy/100 dân, thuê bao di động chiếm 50,6%. Phát triển mới 130 nghìn thuê bao Internet, nâng tổng số lên hơn 2.130 nghìn thuê bao; số người sử dụng dịch vụ Internet khoảng 6,4 triệu, đạt mật độ 7,7%. Tổng dung lượng đường truyền Internet quốc tế là 1.892 Mbps.
    Hoạt động du lịch trong tháng 2 tiếp tục diễn ra sôi động, đặc biệt trong các ngày nghỉ Tết Nguyên đán. Những ngày Tết Ất Dậu năm 2005, các công ty lữ hành tổ chức nhiều chương trình du lịch phong phú, bên cạnh những điểm đến quen thuộc như Đà Lạt, Phú Quốc, Hạ Long… các công ty du lịch đã đưa ra các chương trình du lịch mới như Khám phá đường Trường Sơn, Tết với Di sản, đón Tết Nam Bộ ở Miền Tây… Do mức sống tăng cao, việc đi du lịch vào dịp Tết Nguyên đán đang trở thành một thói quen của người Việt Nam, đặc biệt là người dân ở các thành phố lớn; các tour trong nước, nhất là tour dài ngày vẫn đông khách. Nhiều điểm du lịch nổi tiếng như Mũi Né (Phan Thiết) không đủ phòng cho khách trong dịp Tết.
    Trong tháng 2 ước đón được 300 nghìn lượt khách quốc tế; tính chung cả 2 tháng, số khách quốc tế ước đạt khoảng hơn 600 nghìn lượt người, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2004; khách du lịch nội địa ước đạt trên 2,6 triệu lượt người, tăng 12,5% so với cùng kỳ. Do số lượng khách quốc tế tăng nhanh, hầu hết các khách sạn cao cấp tại các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nha Trang... đều sử dụng trên 90% công suất.
    Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, lĩnh vực dịch vụ còn một số tồn tại sau:
    Hạ tầng dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh và người dân (du lịch, bưu chính viễn thông...): Trong những ngày Tết Ất Dậu 2005, lưu lượng thông tin di động tăng rất cao từ 15% đến 60% tuỳ theo khu vực so với những ngày trước Tết nên hầu hết trạm thu phát sóng của VinaPhone bị nghẽn mạch; mạng MobiFone phần nhắn tin bị nghẽn trong giờ cao điểm. Dịch vụ nhắn tin ngắn của VinaPhone bị xảy ra nghẽn lớn, trong đó có hệ thống đã bị sự cố kéo dài 13 giờ.
    Chi phí dịch vụ cao, chất lượng dịch vụ chưa được cải thiện: Trong những ngày Tết, giá tour nội địa của nhiều công ty lữ hành tăng từ 30-50% so với ngày thường trong khi chất lượng không được nâng cao.
3. Xuất nhập khẩu.
    Kim ngạch xuất khẩu tháng 2 ước đạt 1,9 tỷ USD, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 650 triệu USD. Tính chung cả 2 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,078 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 8,2%), bằng 13% kế hoạch năm, trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 1,384 tỷ USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 34% tổng kim ngạch xuất khẩu.
    Các mặt hàng xuất khẩu tăng so cùng kỳ năm 2004 là: than đá tăng 40,4%, sản phẩm nhựa tăng 18%, dây điện và dây cáp điện tăng 30,8%, máy vi tính, linh kiện tăng 72,4%, hàng điện tử tăng 14,3%, hạt điều tăng 100,4%, hàng rau quả tăng 73,6%, chè các loại tăng 33,6%.
    Kim ngạch nhập khẩu tháng 2 ước đạt 2,35 tỷ USD, trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 830 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 4,903 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm trước tăng 6,9%), trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,737 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 15%). Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu trong tháng 2 là ô tô, xe máy nguyên chiếc các loại, nguyên vật liệu và thiết bị phụ tùng phục vụ cho sản xuất như xăng dầu ước đạt 850 nghìn tấn, thép các loại 320 nghìn tấn, máy móc thiết bị, phụ tùng 400 triệu USD.
    Nhập siêu 2 tháng đầu năm 2005 ước khoảng 825 triệu