CHÍNH PHỦ
|
CHÍNH PHỦ
___________
Số: 27/2008/NQ-CP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc
__________________________
Hà Nội, ngày 25 tháng
11 năm 2008 |
|
NGHỊ QUYẾT
Phiên họp Chính phủ giữa tháng 11 năm 2008
____________________ |
Ngày 18 tháng 11 năm 2008, Chính phủ họp phiên giữa
tháng 11 năm 2008, thảo luận và quyết nghị những vấn đề sau đây:
1. Chính phủ nghe Bộ trưởng Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội báo cáo tờ trình Đề án về cơ chế, chính sách và giải pháp
hỗ trợ giảm nghèo đối với các huyện có tỷ lệ nghèo cao đến năm 2015 và định
hướng đến năm 2020; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về việc hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.
Thời gian qua, nước ta đã tập trung nguồn lực thực
hiện nhiều cơ chế, chính sách để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và đã
đạt được những thành tựu quan trọng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhiều; đời sống người
nghèo được cải thiện rõ rệt; việc xóa đói, giảm nghèo đã góp phần thực hiện phát
triển kinh tế gắn với công bằng xã hội, được cộng đồng thế giới ghi nhận và đánh
giá cao. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, còn có khoảng cách
chênh lệch khá lớn giữa các vùng, miền, các nhóm dân cư. Thực hiện Nghị quyết số
26/NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần
thứ 7 khóa X về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, Chính phủ cần phải ban hành
và thực hiện các cơ chế, chính sách và giải pháp hỗ trợ giảm nghèo đối với các
huyện có tỷ lệ nghèo cao đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 nhằm giảm tỷ lệ
nghèo ở các huyện này nói riêng, đồng thời góp phần đẩy nhanh công cuộc xói đói,
giảm nghèo của cả nước nói chung.
Để thực hiện giảm nghèo đối với những huyện có tỷ lệ
nghèo cao, một mặt, cần tiếp tục triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách đã
ban hành trên cơ sở rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới; mặt khác,
ban hành các cơ chế, chính sách mới mang tính chất đột phá, đặc thù, phù hợp với
đặc điểm và điều kiện kinh tế - xã hội của từng huyện, từng địa phương.
Giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì,
phối hợp với các cơ quan liên quan, tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ tại
phiên họp, hoàn chỉnh Đề án và Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về việc hỗ trợ
giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, sớm trình Thủ tướng Chính
phủ ký, ban hành. Trong Nghị quyết này cần quy định một số cơ chế, chính sách cụ
thể triển khai thực hiện ngay sau khi ban hành; đồng thời đưa ra một số định
hướng chính sách, để từ đó ban hành các văn bản cụ thể hóa.
2. Chính phủ nghe Tổng Thanh tra Chính phủ
báo cáo về dự thảo Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020;
nghe Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo ý kiến về dự thảo Chiến
lược này.
Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm
2020 thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong công tác đấu tranh
phòng, chống tham nhũng; là sự thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng lần thứ 3 khóa X về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí", đồng thời tiếp tục cụ thể hóa Luật
Phòng, chống tham nhũng năm 2005. Chiến lược này là công cụ và định hướng quan
trọng để thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng từ nay đến năm 2020, được áp
dụng đối với cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Dự thảo Chiến lược phòng, chống tham nhũng cần đưa
ra các giải pháp toàn diện, đồng bộ, xác định bước đi cụ thể, phù hợp, có trọng
tâm, trọng điểm cho từng giai đoạn; đồng thời chỉ quy định những vấn đề thực sự
cần thiết, có tính khả thi; kế hoạch hành động hợp lý, phù hợp với năng lực thực
hiện của các cơ quan nhằm bảo đảm thực thi Chiến lược có hiệu quả, góp phần tích
cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn
phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Bộ Tư pháp và Văn phòng
Chính phủ tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, hoàn thành Dự thảo Chiến
lược, trình Bộ Chính trị cho ý kiến. Trên cơ sở đó, dự thảo Nghị quyết của Chính
phủ trình Thủ tướng Chính phủ ký, ban hành.
3. Chính phủ nghe Bộ trưởng Bộ Y tế trình bày
tờ trình về Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003; nghe Bộ trưởng,
Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo tổng hợp ý kiến thành viên Chính phủ về
Pháp lệnh này;
Bộ trưởng Bộ Tài chính trình bày tờ trình về Pháp
lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên; nghe Bộ trưởng, Chủ
nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo ý kiến thẩm tra về Pháp lệnh này.
Là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao
nhất trong lĩnh vực dân số, điều chỉnh toàn diện vấn đề dân số, Pháp lệnh Dân số
năm 2003 đã góp phần nâng cao trách nhiệm của công dân, của nhà nước và xã hội
trong công tác dân số; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; tăng
cường, thống nhất quản lý nhà nước về dân số. Tuy nhiên, việc quy định thiếu
chặt chẽ tại Điều 10 dẫn đến cách hiểu nhà nước không hạn chế quy mô gia đình ở
mức 1 đến 2 con. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho chỉ tiêu giảm sinh
thời gian qua không hoàn thành. Để khắc phục tình trạng này, từng bước đưa công
tác dân số và kế hoạch hóa gia đình đi vào nề nếp, cần phải ban hành Pháp lệnh
sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003, trong đó quy định rõ quy mô gia đình
1 đến 2 con, thực hiện có hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với công
tác dân số và kế hoạch hóa gia đình.
Việc khai thác tràn lan và xuất khẩu quặng khoáng
sản, đất hiếm... tăng mạnh thời gian qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc
biểu khung thuế suất thuế tài nguyên đối với nhóm khoáng sản kim loại và phi kim
loại ban hành từ năm 1998 còn thấp, không phù hợp với tình hình hiện nay. Để góp
phần hạn chế tình trạng khai thác tràn lan, tăng ngân sách địa phương dành cho
cải tạo môi trường, sửa chữa cơ sở hạ tầng cũng như khuyến khích các doanh
nghiệp khai thác tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, cần phải ban hành Pháp lệnh sửa
đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên.
Giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn
phòng Chính phủ tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ tại phiên họp, hoàn
chỉnh dự án Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003; Bộ Tài chính
chủ trì, tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ tại phiên họp, hoàn chỉnh dự
án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên. Bộ trưởng Bộ Y
tế, Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình Ủy ban Thường
vụ Quốc hội xem xét, thông qua các dự án Pháp lệnh này.
4. Thời gian từ nay đến hết năm không còn
nhiều, Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương cần rà soát và tiếp tục chỉ
đạo điều hành quyết liệt, tập trung hoàn thành các công việc, đề án trọng tâm,
trọng điểm liên quan đến thực hiện các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội năm 2008. Các cơ quan, đơn vị tiếp tục đẩy mạnh cải cách các thủ tục
hành chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; chủ động ứng dụng công nghệ
thông tin trong chỉ đạo, điều hành để giảm bớt hội họp tập trung đông người.
Giao Bộ Tài chính rà soát, tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa và ban hành thêm các
quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí./.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng
Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ;
- Văn phòng BCĐTW về phòng,
chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành
phố trực thuộc TW;
- Văn phòng Trung ương và các
Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Toà án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối
cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Ủy ban Giám sát tài chính
quốc gia;
- BQL Khu kinh tế cửa khẩu QT
Bờ Y;
- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt
Nam;
- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam;
- Cơ quan Trung ương của các
đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, các Vụ,
Cục, đơn vị
trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, TH (5b) |
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
Nguyễn
Tấn Dũng |