Chính phủ -------- Số
Chính phủ
--------
Số : 47 / CP |
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------------------------------------------------
Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 1996 |
Nghị định của chính phủ
Về quản lý vũ khí, vật liệu nổ
và công cụ hỗ trợ
_____
Chính phủ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để tăng cường quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, đáp ứng yêu cầu sẵn
sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh Quốc gia - trật tự, an toàn xã
hội;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp và Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao,
Nghị định :
Chương I
Những quy định chung
Điều 1.- Ban hành kèm theo Nghị định này "Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và
công cụ hỗ trợ". Quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong
việc quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Điều 2.- Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang,
công dân Việt Nam; tổ chức, cá nhân người nước ngoài đang cư trú, hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam; (sau đây gọi tắt là tổ chức, cá nhân) có nghĩa vụ chấp hành
nghiêm chỉnh những quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Điều 3.- Người đứng đầu các tổ chức được trang bị, sử dụng hoặc bảo quản vũ khí,
vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc quản lý,
sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ trong phạm vi quản lý của mình.
Điều 4.-
1- Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc phát hiện, thu nộp, đấu tranh ngăn
chặn vi phạm các quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ sẽ
được khen thưởng.
2- Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về quản lý vũ khí, vật liệu
nổ và công cụ hỗ trợ, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý kỷ luật,
xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt
hại vật chất thì phải bồi thường.
Điều 5.- Các cơ quan Nhà nước phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
thành viên của Mặt trận tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân thi hành
nghiêm chỉnh các quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Chương II
Quản lý nhà nước về vũ khí,
vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Điều 6.- Chính phủ thống nhất việc quản lý các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ
hỗ trợ trong phạm vi cả nước.
Điều 7.- Bộ Nội vụ giúp Chính phủ quản lý các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ ngoài
phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng và có trách nhiệm :
1- Quy định đối tượng cụ thể được trang bị các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ, được
vận chuyển vật liệu nổ (trừ đối tượng quy định tại Điều 8 Nghị định này).
2- Đăng ký, cấp giấy phép sử dụng, vận chuyển, mua và sửa chữa vũ khí và công cụ
hỗ trợ; cấp giấy phép vận chuyển vật liệu nổ cho các đối tượng quy định tại
khoản 1 Điều này.
3- Cấp giấy phép mang vào hoặc mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam các loại vũ khí,
công cụ hỗ trợ để bảo vệ nguyên thủ Quốc gia, và những người đứng đầu Chính phủ
luyện tập và thi đấu thể thao, quảng cáo, triển lãm, chào hàng.
4- Tổ chức cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự, an toàn phòng
cháy, chữa cháy cho các kho, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sửa chữa các loại vũ
khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
5- Thực hiện chuyển loại, thanh lý, tiêu hủy vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, súng
săn và công cụ hỗ trợ.
6- Phối hợp với Tổng cục Thể dục Thể thao quy định chế độ quản lý, đối tượng
được trang bị và cấp giấy phép sử dụng vũ khí thể thao cho các đơn vị, câu lạc
bộ, trường hoặc trung tâm huấn luyện, thi đấu thể thao; chuyển loại, thanh lý,
tiêu hủy vũ khí thể thao.
7- Kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
và xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật.
Điều 8.- Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quản lý các loại vũ khí, vật liệu nổ, công
cụ hỗ trợ trong phạm vi quản lý của mình và có trách nhiệm :
1- Quy định cụ thể đối tượng được trang bị các loại vũ khí vật liệu nổ và công
cụ hỗ trợ cho bộ đội chủ lực, bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương và dân quân
tự vệ.
2- Đăng ký, cấp giấy phép sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ cho các đối tượng quy
định tại khoản 1 Điều này.
3- Cung cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí quân dụng cho một số đối tượng ngoài phạm
vi quản lý của Bộ Quốc phòng khi được Bộ Nội vụ cho phép bằng văn bản.
4- Tổ chức các cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, công
cụ hỗ trợ trong quân đội.
5- Tiếp nhận, xử lý, tiêu hủy vũ khí quân dụng, các loại bom, mìn, lựu đạn,
thuốc phóng, vật liệu nổ do tổ chức và cá nhân giao nộp.
6- Kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, công
cụ hỗ trợ thuộc đối tượng do Bộ Quốc phòng trang bị.
7- Thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Nội vụ thực hiện việc sửa chữa, chuyển loại,
thanh lý vũ khí quân dụng, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Điều 9.- Bộ Công nghiệp có trách nhiệm :
1- Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp Nhà nước trong
việc sản xuất, cung ứng và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp.
2- Cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động cho các cơ sở sản xuất, cung ứng
và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp sau khi có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an
ninh trật tự của Bộ Nội vụ.
3- Chủ trì và phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng, quy hoạch tổng thể
kế hoạch phát triển vật liệu nổ công nghiệp.
4- Chủ trì và phối hợp với Bộ Nội vụ hoặc Bộ Quốc phòng kiểm tra các cơ sở sản
xuất, cung ứng, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp.
Điều 10.- Tổng cục Thể dục Thể thao có trách nhiệm :
1- Quản lý các loại vũ khí thể thao được trang bị phục vụ cho việc huấn luyện,
thi đấu thể thao.
2- Chủ trì và phối hợp với Bộ Nội vụ quy định đối tượng được trang bị vũ khí thể
thao cho các đơn vị, câu lạc bộ, trường hoặc trung tâm huấn luyện, thi đấu thể
thao.
3- Kiểm tra việc quản lý, sử dụng vũ khí thể thao đã được trang bị cho các cơ sở
huấn luyện, thi đấu thể thao.
4- Chủ trì và phối hợp với Bộ Nội vụ thực hiện việc thanh lý, chuyển loại, tiêu
hủy các loại vũ khí thể thao.
Điều 11.- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm :
1- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Quốc
phòng, Bộ Công nghiệp, Tổng cục Thể dục Thể thao thực hiện nghiêm chỉnh các quy
định của Nhà nước về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, và công cụ hỗ trợ.
2- Chịu trách nhiệm về việc sử dụng, bảo quản, các loại vũ khí, vật liệu nổ công
cụ hỗ trợ được trang bị cho các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.
3- Kê khai, đăng ký các loại vũ khí, súng săn, công cụ hỗ trợ được trang bị với
cơ quan Công an có thẩm quyền.
Điều 12.- ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm
chỉ đạo các ngành chức năng của địa phương và ủy ban nhân dân cấp dưới tổ chức
thực hiện các quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Điều 13.- Cơ quan thông tin báo chí, đài phát thanh, truyền hình của Trung ương
và địa phương có trách nhiệm thường xuyên tuyên truyền, phổ biến các quy định về
quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Việc tuyên truyền này không được
thu phí.
Chương III
Tổ chức thực hiện
Điều 14.-
- 1- Từ ngày 01 tháng 9 năm 1996 phải tiến hành tổng kiểm tra và đổi lại giấy
phép sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ trong phạm vi cả nước.
2- Bộ Nội vụ chủ trì cùng với các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương tiến hành tổng kiểm tra và đổi lại giấy phép sử dụng vũ
khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn và công cụ hỗ trợ.
3- Bộ Quốc phòng tiến hành tổng kiểm tra và đổi lại giấy phép sử dụng vũ khí,
công cụ hỗ trợ trong các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng quản lý.
4- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kê khai các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ
hỗ trợ hiện có với cơ quan quân đội và Công an có thẩm quyền.
5- Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ quy định mẫu các loại giấy phép về quản lý các loại
vũ khí và công cụ hỗ trợ.
6- Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng hướng dẫn việc thu và sử
dụng tiền lệ phí đăng ký cấp giấy phép, tiền thưởng trong công tác này và kinh
phí để phục vụ cho việc tổng kiểm tra, đăng ký, cấp giấy phép sử dụng các loại
vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
Điều 15.-
1- Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm
thi hành Nghị định này.
2- Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Tổng
cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao, Bộ trưởng Bộ Thương mại, Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ trưởng Bộ Tài chính trong phạm vi chức năng
của mình có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Điều 16.- Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Nghị định số 246/CP
ngày 17/5/1958, Nghị định số 175/CP ngày 11/12/1964, Nghị định số 33/CP ngày
24/2/1973 của Hội đồng Chính phủ và các quy định trước đây trái Nghị định này
đều bãi bỏ ./.
|
Nơi nhận :
-Thường vụ Bộ Chính trị,
- Thủ tướng, các PTT Chính phủ,
- UBND, HĐND các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương,
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ,
- Văn phòng Quốc hội,
- Văn phòng Chủ tịch nước,
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng,
- Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao,
- Toà án Nhân dân tối cao,
- Cơ quan TW của các đoàn thể,
- Công báo,
- VPCP : BTCN, các PCN, các Vụ, Cục,
- Lưu : NC (5), Văn thư. |
T/m. Chính phủ
Thủ tướng
Võ Văn Kiệt |